Tình hình kinh tế xã hội tháng 04 năm 2021 tỉnh Phú yên

Thứ năm - 29/04/2021 06:05 717 0
Tình hình kinh tế xã hội tháng 04 năm 2021 tỉnh Phú yên
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2021

Trong tháng 4/2021, tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, sản xuất kinh doanh ổn định và phát triển sau một thời gian giảm thấp… Dự ước tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội tháng 4/2021 như sau:
1. Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
1.1. Nông nghiệp
Lúa vụ đông xuân 2020-2021, đã gieo sạ hơn 26,5 ngàn ha, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước; ở các huyện miền núi do đã đầu tư một số công trình thủy lợi nên chuyển từ đất lúa 1 vụ sang 2 vụ như: Huyện Sông Hinh tăng 4,8% khoảng 81,7 ha, Đồng xuân tăng 2,5% khoảng 41,7 ha và huyện Sơn Hòa tăng 2,5% khoảng 24,6 ha. Đến ngày 14/4/2021, lúa vụ đông xuân đã thu hoạch được 1.806 ha; ước đến cuối tháng 4 thu hoạch được 19.405 ha, năng suất ước đạt 74,5 tạ/ha. Nhìn chung, thời tiết vụ đông xuân năm nay thích hợp cho cây lúa sinh trưởng và phát triển nên năng suất tương đối cao, công tác thu hoạch lúa cũng thuận lợi.
Cây trồng khác tính đến ngày 15/4/2021 bà con nông dân đã gieo trồng được so cùng kỳ năm trước như: Mía 15.357 ha, tăng 15,4%; ngô 2.650 ha, tăng 3,9%; rau các loại 4.420 ha, tăng 3%; đậu các loại 1.630 ha, tăng 0,4%....
Một số đối tượng sâu bệnh gây hại tính đến ngày 14/4/2021: Trên cây lúa, bệnh khô vằn 100 ha với tỷ lệ hại 2-20%; bệnh đốm sọc vi khuẩn gây hại 27 ha; chuột gây hại 24,2 ha; rầy nâu gây hại 9 ha; bệnh đen lép hạt 19,8 ha và một số đối tượng gây hại rải rác trên cây lúa giai đoạn trổ - chín sữa. Trên cây rau cải, sâu xanh bướm trắng gây hại 2 ha; bọ nhảy 1,5 ha tại huyện Tuy An; ngoài ra, còn có sâu ăn lá, sâu tơ, bệnh đốm mắt cua gây hại xà lách rải rác tại thị xã Đông Hòa. Trên cây ngô, sâu keo mùa thu gây hại 5,5 ha ở giai đoạn nảy mầm - chín sữa tại huyện Tuy An, Phú Hòa; sâu đục thân gây hại với mật độ thấp tại huyện Tây Hòa. Trên cây sắn, nhện đỏ gây hại 100 ha, bệnh rệp sáp bột hồng 15 ha và bệnh khảm lá virus gây hại với diện tích 11.327 ha (huyện Sông Hinh 4.500 ha, Đồng Xuân 2.000 ha, Sơn Hòa 4.050 ha, Tây hòa 750 ha, Phú hòa 25, Tuy An 2 ha).
Chi cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật đang tăng cường công tác dự báo sâu bệnh hại cây trồng và hướng dẫn nông dân cách chăm sóc, phòng trừ hoặc tiêu hủy cây bị bệnh. Tăng cường hướng dẫn nông dân áp dụng sản xuất đúng quy trình canh tác cây rau, quy trình IPM, VietGap...
- Về bệnh lở mồm long móng (LMLM) xảy ra trên địa bàn tỉnh: Huyện Đồng Xuân, số bò mắc bệnh 115 con/51 hộ, chết 15 con (do ghép bệnh tụ huyết trùng, chướng hơi dạ cỏ). Hiện nay số bò trên đã được điều trị khỏi bệnh, ổ dịch đã qua 17 ngày; huyện Sông Hinh, số bò mắc bệnh 211 con/88 hộ, (thị trấn Hai riêng 34 con/10 hộ, xã Đức Bình Tây 115 con/42 hộ, xã Ea Bia 62 con/36 hộ). Hiện còn đang điều trị 52 con (xã Đức Bình Tây 25 con, Ea Bia 27 con).
- Các địa phương đã triển khai tiêm phòng đồng loạt từ ngày 01/3/2021, đến nay toàn tỉnh đang tiếp tục tiêm vét, sau đó tiếp tục tiêm phòng bổ sung. Vaccine LMLM trâu, bò lũy kế tiêm được 85.837 con (ngân sách hỗ trợ 84.412 con, người dân tự mua 1.425 con); bệnh tụ huyết trùng trâu, bò lũy kế 38.844 con (ngân sách hỗ trợ 26.080 con, người dân tự mua 12.764 con); bệnh dại chó lũy kế 6.997 con. Vaccine cúm gia cầm lũy kế 125.100 con (người dân tự mua 46.500 con, ngân sách hỗ trợ 2 huyện có nguy cơ cao Phú Hòa và Đông Hòa 78.600 con).
- Tổ chức phun thuốc sát trùng, tiêu độc môi trường chăn nuôi (tỉnh phân bổ 8.000 lít Benkocid) và cấp tạm ứng cho các địa phương xử lý ổ dịch (1.080 lít Iodine). Hướng dẫn người dân cách ly, điều trị, không bán chạy gia súc bệnh; tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình bệnh, kịp thời xử lý, khống chế ổ dịch phát sinh, không để lây lan diện rộng.
1.2. Lâm nghiệp
Trong tháng, các đơn vị lâm nghiệp và hộ dân trồng rừng đã khai thác 190 ha rừng trồng tập trung đến thời gian cho sản phẩm với sản lượng gỗ các loại 9,7 ngàn m3, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước; củi khai thác 1 ngàn ster bằng 100%. Lũy kế 4 tháng gỗ tròn các loại khai thác được 31,8 ngàn m3, tăng 4,3%; củi 3,5 ngàn ster, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước.
Từ đầu năm đến nay, công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện và lập biên bản xử lý kịp thời 52 vụ vi phạm giảm 15%, trong đó: 7 vụ phá rừng trái pháp luật làm diện tích rừng bị giảm 2,8 ha. Xử lý 49 vụ vi phạm, phạt tiền khoảng 963 triệu đồng; khối lượng gỗ tịch thu 35,3 m3.
1.3. Thuỷ sản
Diện tích thả nuôi trong tháng 4/2021 tăng so cùng kỳ năm trước là nhờ thời tiết thuận lợi, các hộ nuôi trồng tập trung thả nuôi những diện tích còn lại và sẽ kết thúc thả nuôi vụ 1 trong tháng; ước tính diện tích thả nuôi thủy sản các loại đạt 294 ha, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Tôm 215 ha, tăng 3,9% (tôm sú 50 ha, tăng 6,4%; tôm thẻ 165 ha, tăng 3,1%), cá các loại 10 ha, bằng 100%; thủy sản các loại 69 ha, bằng 100%. Lũy kế 4 tháng diện tích thả nuôi được 1.313 ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Cá các loại 153 ha, bằng 100%; tôm 950 ha, tăng 1,1%; thủy sản các loại 210 ha, bằng 100%.
Sản lượng tôm Post sản xuất đạt 17 triệu con, tăng 68,3% so cùng kỳ năm trước chủ yếu xuất bán phục vụ nuôi trồng trong tỉnh.
 
Tình hình dịch bệnh trên tôm thẻ chân trắng có 26,35 ha tôm bị bệnh, trong đó: Bệnh hoại tử gan tụy cấp 18,35 ha, bệnh đốm trắng 8 ha, tôm nuôi khoảng 20 đến 42 ngày tuổi (thị xã Sông Cầu 2,5 ha, huyện Tuy An 1,85 ha, thị xã Đông Hòa 22 ha). Các ngành chức năng đã hướng dẫn các biện pháp phòng và chữa bệnh, cấp thuốc sát trùng Sodium Chlorite 20% để xử lý hồ nuôi, tiếp tục theo dõi không để dịch bệnh lây lan sang diện rộng.
- Trong tháng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản ước tính 9.020 tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước (cá các loại 8.290 tấn, tăng 2,4%; tôm 430 tấn, tăng 9,4%; thủy sản các loại 300 tấn, giảm 5,4%). Trong đó:
+ Sản lượng thủy sản khai thác 8.569 tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, sản lượng khai thác thủy sản biển 8.544 tấn[1], tăng 2,1%; sản lượng khai thác thủy sản nội địa đạt 25 tấn, giảm 10,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá các loại 24 tấn, giảm 7,7%; thủy sản khác 1 tấn, giảm 50%. Sản lượng thủy sản khác khai thác trong tháng dự ước tăng là nhờ đầu tư cải hoán, nâng cấp công suất tàu thuyền giúp cho việc đánh bắt xa bờ được thuận lợi, sản lượng đánh bắt xa bờ đem lại ngày càng tăng hơn; khai thác nội địa ngày càng giảm do ảnh hưởng nguồn nước bị ô nhiễm, khai thác tận diệt, diện tích ao hồ thu hẹp do san lấp để đầu tư xây dựng công trình ... 
+ Sản lượng nuôi trồng đạt 451 tấn, tăng 9,7% so với cùng năm trước; trong đó: Cá các loại 66 tấn, tăng 6,5%; tôm 385 tấn, tăng 10,3% (tôm hùm 85 tấn, tăng 3,7%; tôm thẻ chân trắng 300 tấn, tăng 12,4%). Sản lượng tôm thẻ chân trắng tăng là do diện tích thu hoạch tăng 2,7%, năng suất bình quân tăng 0,5 tấn/ha là nhờ những diện tích tôm thả nuôi đầu vụ thời tiết thuận lợi cho tôm phát triển tốt trong thời gian nuôi đến khi thu hoạch không bị ảnh hưởng do dịch bệnh nên đạt sản lượng.
- Tính chung 4 tháng, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản ước tính 25.858 tấn, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá các loại 22.323 tấn, giảm 1,9%; tôm 890 tấn, tăng 8,3%; thủy sản các loại 2.645 tấn, tăng 21,6%.
2. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp dự tính tháng 4/2021 tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,5%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,4%; sản xuất, phân phối điện và hơi nước tăng 17,4%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 5,1%. Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có các ngành công nghiệp cấp 2 có mức tăng so với cùng kỳ năm trước như các ngành: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 28,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 21%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ, gỗ, tre, nứa tăng 17,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 17,6%; sản xuất trang phục tăng 17,2%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 14,2%.
Lũy kế 4 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,3%; sản xuất, phân phối điện và hơi nước tăng 11,7%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 3,2%.
Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh năm 2010) tháng 4/2021 dự tính 1.835,5 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, chia theo ngành công nghiệp khai khoáng 16,3 tỷ đồng, tăng 0,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo 1.651,1 tỷ đồng, tăng 10,9%; sản xuất và phân phối điện 160,2 tỷ đồng, tăng 10%; cung cấp nước và xử lý rác thải 7,9 tỷ đồng, tăng 5,8%.
Lũy kế 4 tháng năm 2021, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh năm 2010) dự tính 6.862,2 tỷ đồng, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng 66,2 tỷ đồng, giảm 1,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo 6.079 tỷ đồng, tăng 5,8%; sản xuất và phân phối điện 680,5 tỷ đồng, tăng 9,8%; cung cấp nước và xử lý rác thải 36,5 tỷ đồng, tăng 3,8%.
Trong tháng một số sản phẩm sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Dăm gỗ các loại 18.500 tấn, tăng 21%; mây tre lá các loại 33 ngàn sản phẩm, tăng 17,9%; ván lạng gỗ các loại 680 tấn, tăng 20,4%; điện sản xuất 141.2 triệu kwh, tăng 17,1%; chip điện tử 66 triệu sản phẩm, tăng 13,8%; viên nén 590 m3, tăng 12,6%; quần áo các loại 1.055 ngàn sản phẩm, tăng 10,2%; thuốc viên các loại 170 triệu viên, tăng 7,6%; điện thương phẩm 81 triệu kwh, tăng 4,9%; nhân hạt điều các loại 1.395 tấn, tăng 8%; nước uống được 1.016 ngàn m3, tăng 6,4%; bia các loại 3.957 ngàn lít, tăng 5,2%; tinh bột sắn 19.000 tấn, tăng 0,8%.... 
3. Tình hình đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp
Tính đến ngày 01/4/2021 trên địa bàn tỉnh Phú Yên có 137 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 21,2% so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký là 1.227,6 tỷ đồng, giảm 9,1% so cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới chỉ đạt 8,96 tỷ đồng/01 doanh nghiệp. Bên cạnh đó, có 05 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 66,7% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động là 53 doanh nghiệp tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh là 25 doanh nghiệp, tăng 66,7% so với cùng kỳ năm trước.
4. Đầu tư
Trong những tháng đầu năm 2021, do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 tác động đến nền kinh tế, gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh. Nhiều dự án có tổng mức đầu tư lớn đang thiếu vốn và vướng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng nên khó triển khai thi công như: Dự án Hồ điều hòa Hồ Sơn và hạ tầng xung quanh; nút giao thông khác mức đường Hùng Vương - Quốc lộ 1A;… Do đó, các Sở, ban, ngành tập trung tháo gỡ vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, công trình trọng điểm, các dự án lớn chuyên ngành..., đồng thời tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các giải pháp chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh về thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế, đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng góp phần thực hiện Kế hoạch năm 2021.
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 4/2021 theo giá hiện hành dự tính thực hiện 325,5 tỷ đồng, tăng 8% so tháng trước và giảm 20% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 214,5 tỷ đồng, giảm 26,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 110,2 tỷ đồng, giảm 4,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 0,8 tỷ đồng, giảm 15,4%.
Trong tháng tập trung thi công một số ngành có giá trị khối lượng lớn như: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản thực hiện 106,6 tỷ đồng, giảm 11,2%; xây dựng 22,8 tỷ đồng, tăng 46,6%; vận tải và kho bãi thực hiện 126,8 tỷ đồng, tăng 7%; hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội, QLNN, ANQP, đảm bảo xã hội bắt buộc thực hiện 12,7 tỷ đồng, giảm 19%; giáo dục đào tạo thực hiện 28,1 tỷ đồng, giảm 35,1% so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 4 tháng năm 2021, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý theo giá hiện hành dự tính 1.134,1 tỷ đồng đạt 20,6% so kế hoạch năm và giảm 26,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 634 tỷ đồng, giảm 38,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 498,1 tỷ đồng, giảm 4,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 2 tỷ đồng, giảm 13,4% so với cùng kỳ năm trước.
5. Tài chính, ngân hàng
5.1. Thu, chi ngân sách
- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tính đến 19/4/2021 là 1.279 tỷ đồng, đạt 24,2% dự toán Trung ương; đạt 14,8% dự toán tỉnh giao;
- Tổng chi ngân sách địa phương 3.424 tỷ đồng, đạt 36,7% dự toán Trung ương; đạt 27% dự toán tỉnh giao; trong đó chi thường xuyên là 1.572 tỷ đồng.
5.2. Hoạt động ngân hàng
- Mặt bằng lãi suất huy động VND phổ biến ở mức 0,1% - 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 01 tháng; 2,8% - 4,6%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 01 tháng đến dưới 06 tháng; 3,5% - 5,9%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 06 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 4,4% - 7,4%/năm. Lãi suất huy động USD 0%/năm.
- Mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 54,5%/năm đối với ngắn hạn, ở mức 7% - 10,6%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường và cho vay tiêu dùng ở mức 4,8% - 15%/năm đối với ngắn hạn; 6,99% - 16%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,3%-9,1%/năm, trong đó lãi suất ngắn hạn phổ biến ở mức 2,3% - 7,8%/năm; lãi suất cho vay trung, dài hạn ở mức 4,2% - 9,1%/năm.
Hiện nay, các NHTM áp dụng lãi suất cho vay VNĐ ≤ 6,5%/năm dư nợ là 2.995 tỷ đồng, chiếm 9% dư nợ cho vay của các NHTM; lãi suất trên 6,5%/năm đến ≤ 9%/năm, dư nợ 14.075 tỷ đồng, chiếm 42,31% dư nợ cho vay của các NHTM; cho vay với lãi suất trên 9%/năm (chủ yếu là các khoản vay trung dài hạn, cho vay tiêu dùng) đạt dư nợ 16.197 tỷ đồng, chiếm 48,69% dư nợ cho vay của các NHTM...
Trong tháng 3/2021, tổng số kiều hối chuyển về địa phương thông qua hệ thống ngân hàng trên địa bàn đạt 3,29 triệu USD tương đương 75,4 tỷ đồng, lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 3/2021 đạt được 10,76 triệu USD tương đương 247,1 tỷ đồng. Đây là dòng vốn ròng tạo điều kiện hỗ trợ cho các TCTD cung ứng ngoại tệ cho khách hàng, góp phần tăng trưởng kinh tế địa phương.
- Nguồn vốn huy động tại chỗ đáp ứng được nhu cầu vốn của các TCTD trên địa bàn. Tính đến cuối tháng 4/2021, dự tính tổng nguồn vốn huy động trên toàn tỉnh đạt 30.591 tỷ đồng, tăng 6,21% so với cuối năm 2020; so với cuối tháng trước tăng 0,5%. Trong đó so với cuối năm 2020: Tiền gửi bằng VND 30.239 tỷ đồng, chiếm 98,85% tổng nguồn vốn huy động, tăng 6,6%; tiền gửi ngoại tệ quy VND là 225 tỷ đồng, giảm 28,6%; phát hành giấy tờ có giá bằng VND đạt 127 tỷ đồng, tăng 9,5%.
+ Phân loại theo cơ cấu tiền gửi: Tiền gửi tiết kiệm đạt 26.307 tỷ đồng, chiếm 86%/tổng nguồn vốn huy động, tăng 6,3% so với cuối năm 2020.
- Tổng dư nợ cho vay ước đạt mức 37.189 tỷ đồng, tăng 2,7% so với cuối năm 2020, so với cuối tháng trước tăng 0,4%; trong đó: Cho vay bằng VND 36.609 tỷ đồng, chiếm 98,4%/tổng dư nợ, tăng 2,7% so với cuối năm 2020; cho vay ngoại tệ quy VND 580 tỷ đồng, tăng 7,4%.
Nợ xấu tính đến ngày 15/4/2021 là 391,37 tỷ đồng, chiếm 1,05% trên tổng dư nợ toàn địa bàn. Trong đó, nợ xấu cho vay theo Nghị định 67 là 158,5 tỷ đồng, tăng 25,31 tỷ đồng so với cuối năm 2020 do chuyển nhóm nợ; chiếm 40,5% /tổng nợ xấu toàn địa bàn. Hiện nay, các ngân hàng đã triển khai các giải pháp xử lý tài sản để thu hồi nợ.
- Công tác tháo gỡ khó khăn cho Doanh nghiệp và hộ dân vay vốn ngân hàng được các tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện: Đã cơ cấu lại nợ và giảm lãi suất cho các khoản vay cũ. Tính đến 31/3/2021, các NHTM đã cơ cấu lại nợ cho 2.139 khách hàng với tổng số nợ gốc là 1.436 tỷ đồng và nợ lãi là 94 tỷ đồng trên toàn địa bàn
6. Thương mại, giá cả, dịch vụ
Tháng 4/2021, hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ tiếp tục được duy trì và phát triển. Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường được các cấp, các ngành tăng cường; các đơn vị kinh doanh thương mại và dịch vụ đã có kế hoạch chủ động trong sản xuất, kinh doanh phù hợp; các nhà phân phối, trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện ích trên địa bàn tỉnh đã chủ động đa dạng hóa các mặt hàng nhu yếu phẩm, thực phẩm thiết yếu để phục vụ và kích thích nhu cầu tiêu dùng của người dân.... Tình hình dịch Covid-19 cơ bản đã được kiểm soát hoàn toàn trên cả nước, cùng với thời tiết thuận lợi nên nhu cầu du lịch nội địa đang có xu hướng tăng mạnh trở lại nhất là vào những ngày cuối tuần.
6.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2021 dự tính 3.081,6 tỷ đồng, tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 44,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó:
+ Doanh thu bán lẻ hàng hóa 2.600,8 tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước và tăng 31,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm ngành hàng chủ yếu, các nhóm đều tăng so với cùng kỳ, trong đó một số nhóm ngành hàng tăng cao đó là: Ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) gấp 5,5 lần, do các Công ty ô tô Toyota mở rộng đại lý tại Phú Yên nên doanh thu tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước; nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm gấp 2,4 lần; vật phẩm, văn hóa, giáo dục gấp 2,2 lần…
+ Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành là 364 tỷ đồng, tăng 9,4% so với tháng trước và gấp 4,2 lần so với cùng kỳ năm trước[2]. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú 18,3 tỷ đồng, gấp 10,4 lần; doanh thu dịch vụ ăn uống 345,4 tỷ đồng, gấp 4,1 lần so với cùng kỳ năm trước.
+ Dịch vụ khác là 116,8 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 78,6% so với cùng kỳ năm trước; so với cùng kỳ năm trước tăng hầu hết ở các dịch vụ trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản 11,3 tỷ đồng, tăng 14,4%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ dự tính 18 tỷ đồng, tăng 7,4%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội dự tính 8,5 tỷ đồng, tăng 11,3%; dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình 12,4 tỷ đồng, tăng 37,4%; dịch vụ khác 25,6 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Riêng dịch vụ giáo dục và đào tạo; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tháng 4 năm trước thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các cơ sở hoạt động dịch vụ này đóng cửa.
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng dự tính 12.536,1 tỷ đồng, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa 10.641,5 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 84,89% và tăng 15,3%; lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành 1.406,7 tỷ đồng, chiếm 11,22% và tăng 31,1%; dịch vụ 487,9 tỷ đồng, chiếm 3,89% và tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước.
6.2. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2021 giảm 0,21% so tháng trước, trong đó 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ  ăn uống giảm 0,76%[3] (tác động làm CPI chung giảm 0,26%); nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 0,28%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,03%; thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,01%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm giao thông tăng 0,79%[4] (tác động làm CPI chung tăng 0,08%); các nhóm còn lại có chỉ số giá không đổi và tăng nhẹ từ 0,01% đến 0,29%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2021 tăng 3,09% so cùng kỳ năm trước, tăng ở 10/11 nhóm như: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,63% (lương thực tăng 14,71%, thực phẩm giảm 3,3%, ăn uống ngoài gia đình tăng 10,29%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,58%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 2,0%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,55%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,16%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; giao thông tăng 18,04%; giáo dục tăng 5,15%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,31%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,28%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,14%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2021 tăng 0,86% so tháng 12 năm trước, trong đó tăng cao nhất là nhóm hàng: Giao thông tăng 7,48%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,43%; hàng lương thực tăng 6,01%; ăn uống ngoài gia đình tăng 2,16%. Giảm nhiều nhất là hàng thực phẩm giảm 4,03%.
Giá vàng 99,99 bình quân trong tháng 4/2021 là 5.232.000 đồng/chỉ, so tháng trước giảm 2,42%, so cùng tháng năm trước tăng 14,94%, so tháng 12 năm trước giảm 3,68%. Giá Đô la Mỹ bình quân trong tháng là 23.162 VND/USD; so tháng trước tăng 0,14%, so cùng tháng năm trước giảm 1,75%, so tháng 12 năm trước giảm 0,29%.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2021 so bình quân cùng kỳ năm trước tăng 1,67%, tăng chủ yếu như: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,2% (do lương thực tăng 15,43%, ăn uống ngoài gia đình tăng 11,75%); nhóm giáo dục tăng 5,15%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,59%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 2,09%. Giảm chủ yếu là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,28%; thực phẩm giảm 1,48%; bưu chính viễn thông giảm 1,55%.
6.3. Giao thông vận tải
Hoạt động giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh Phú Yên tương đổi ổn định và phát triển. Hiện nay không còn ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 trên phương tiện vận tải luôn được thực hiện, trong tháng doanh thu, sản lượng vận chuyển, luân chuyển tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.
- Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 4 dự tính 259,9 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 5,3 tỷ đồng, tăng 22,2%. Doanh thu vận tải đường bộ là 254,6 tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước.
Tháng 4, khối lượng vận chuyển hành khách chủ yếu là đường bộ dự tính 683,2 ngàn lượt khách, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 39.473,9 ngàn lượt khách.km, tăng 8%. Khối lượng hàng hóa vận chuyển chủ yếu là đường bộ 910,8 ngàn tấn, tăng 10,3% và luân chuyển đạt 49.266 ngàn tấn.km, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước.
- Lũy kế 4 tháng đầu năm, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải dự tính 1.045,3 tỷ đồng, tăng 11,3%; trong đó: Vận tải hành khách 142,3 tỷ đồng, giảm 8,2%; vận tải hàng hóa 878 tỷ đồng, tăng 14,6%. Khối lượng vận tải hành khách 2.951,5 ngàn lượt khách, giảm 17,3% và luân chuyển 175.881,1 ngàn lượt khách.km, giảm 21,8%. Khối lượng hàng hóa vận chuyển 3.542 ngàn tấn, tăng 5,2% luân chuyển 220.844,7 ngàn tấn.km, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước.
- Trong tháng từ ngày 15/3/2021 đến 14/4/2021, Cảng hàng không Tuy Hòa đón  45.225 lượt khách với 338 chuyến bay, trong đó: Tuyến TP. HCM - Tuy Hòa, thực hiện 204 chuyến bay (cả đến và đi), vận chuyển 27.630 HK, hệ số sử dụng ghế đạt 67,9%; Tuyến Hà Nội - Tuy Hòa thực hiện 134 chuyến bay, vận chuyển 17.595 HK, hệ số sử dụng ghế đạt 63,9%. Lũy kế 4 tháng đầu năm 15/12/2020 đến ngày 14/4/2021 đón 116.330 lượt khách với 1.102 chuyến bay; trong đó: Tuyến TP. HCM - Tuy Hòa, thực hiện 764 chuyến bay, vận chuyển 79.244 HK, hệ số ghế sử dụng 57,7%, tăng 30,8% số khách và tăng 78,5% số chuyến; Tuyến Hà Nội - Tuy Hòa thực hiện 338 chuyến bay, vận chuyển 37.086 HK, hệ số ghế sử dụng 53,9%, tăng 6,1% số khách và tăng 12,7% số chuyến so với cùng kỳ năm trước.
Lượng hành khách lên tàu tại các Ga trên địa bàn tỉnh trong tháng đạt 7.972 lượt khách, lũy kế 4 tháng đạt 27.598 lượt khách, giảm 13,7% so với cùng kỳ năm trước.
Lượng hàng hóa thông qua cảng Vũng Rô trong tháng đạt 32 ngàn tấn, lũy kế 4 tháng đạt 66 ngàn tấn, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước.
7. Một số vấn đề xã hội
7.1. Hoạt động văn hóa, thể thao
Tổ chức tuyên truyền trực quan và trang trí với hơn 3.000 m2 pa nô các loại nhân dịp kỷ niệm 410 năm Phú Yên hình thành và phát triển (1611-2021) và đón bằng di tích quốc gia đặc biệt Gành Đá Đĩa; kỷ niệm 46 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Tổ chức Đêm Thơ - Nhạc “Trăng Tháp Nhạn” vào ngày rằm tháng Ba (Âm lịch).
Tiếp tục biên soạn tập sách “Trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số ở Phú Yên”; tiếp nhận 15 tác phẩm mỹ thuật do họa sỹ Văn Dương Thành trao tặng Bảo tàng tỉnh; bổ sung hồ sơ 02 di sản văn hóa phi vật thể nghề làm nước mắm Phú Yên và nghề làm bánh tráng Phú Yên theo yêu cầu của Cục Di sản văn hóa; Bảo tàng tỉnh phục vụ 510 lượt khách tham quan.
Thư viện tỉnh tổ chức trưng bày 330 bản sách; cấp 105 thẻ bạn đọc; phục vụ 12.993 lượt bạn đọc với 32.107 lượt tài liệu. Tổ chức trưng bày, triển lãm, tuyên truyền giới thiệu sách và tổ chức các hoạt động khuyến đọc chào mừng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam; tham gia Hội sách tỉnh Phú Yên lần thứ IV năm 2021.
Tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân với tổng số người tham gia là 76.701 người. Tổ chức đón Đoàn đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 33 năm 2021 đi qua địa phận tỉnh Phú Yên.
Ban hành hướng dẫn tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp; xây dựng Điều lệ Đại hội và Điều lệ các môn trong chương trình thi đấu Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Phú Yên lần thứ VIII năm 2021-2022.
Ban hành quy chế tuyển chọn, đào tạo, quản lý và sử dụng huấn luyện viên, vận động viên thể thao thành tích cao. Tham gia thi đấu giải vô địch các câu lạc bộ thể dục Aerobic, Vovinam toàn quốc. Kết quả bộ môn Aerobic giành vị trí thứ nhất toàn đoàn với 7 HCV, 4 HCB và 2 HCĐ.
7.2. Y tế, giáo dục
- Y tế
Tính đến ngày 20/4/2021, bệnh sốt xuất huyết phát hiện 09 ổ dịch, 380 ca mắc, tử vong 02 ca; so với cùng kỳ năm trước, giảm 15 ổ dịch, giảm 48,6% số ca mắc, tăng 2 ca tử vong. Bệnh tay chân miệng 85 ca mắc, tăng gấp 7,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Bệnh sốt rét có 21 trường hợp mắc, sốt rét ác tính 0, tử vong 0; so với cùng kỳ năm trước giảm 72,3% số ca mắc.
Trong tháng phát hiện mới 2 trường hợp nhiễm HIV(+), luỹ kế toàn tỉnh có 816 ca nhiễm HIV (trong đó 301 bệnh nhân AIDS, 201 bệnh nhân tử vong). Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone cho 72 bệnh nhân.
Chương trình tiêm chủng mở rộng, đến cuối tháng 4/2021 đạt 24,5% số cháu dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 8 loại vaccine phòng bệnh; số bà mẹ mang thai được tiêm phòng uốn ván 2 mũi đạt tỷ lệ 22,9%.
Tính đến ngày 20/4/2021, Trung tâm Da liễu đã chỉ đạo và khám 33.303 lượt. Trạm chuyên khoa Lao đã khám 1.649 lượt, phát hiện mới 231 trường hợp mắc, trong đó có 142 trường hợp có bằng chứng vi khuẩn học. Trạm chuyên khoa Tâm thần đã khám 1.260 lượt. Trung tâm Giám định y khoa đã khám cho 3.383 lượt người. Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc-MP-TP đã kiểm nghiệm được 205 mẫu, trong đó có 3 mẫu không đạt chất lượng.
Tăng cường tuyên truyền cho cán bộ và người dân trên toàn tỉnh hiểu về an toàn thực phẩm bằng nhiều hình thức: băng rôn, tờ rơi, phát thanh, truyền hình…; Đã thẩm định và cấp 14 giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Củng cố hồ sơ cơ sở vi phạm của Công ty TNHH Nhà Bếp Ngọc Diệu liên quan đến vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra tại Công ty TNHH CCIPY Việt Nam trình cấp có thẩm quyền giải quyết.
- Giáo dục
Phối hợp với Tạp chí giáo dục thành phố Hồ Chí Minh, Báo Người lao động tổ chức tư vấn tuyển sinh năm 2021.
Tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THCS, THPT năm học 2020-2021 đảm bảo đúng quy chế, khách quan, an toàn. Kỳ thi cấp chứng nhận nghề phổ thông bậc THCS và THPT năm học 2020-2021 khóa ngày 11/4/2021. Tập huấn Quy chế thi Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 cho cán bộ quản lý và các bộ phận liên quan. Tập huấn phần mềm đăng ký tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2021-2022.
Tham gia kỳ thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia năm học 2020-2021, Đoàn học sinh Phú Yên tham gia dự thi 02 dự án. Kết quả đạt 01 giải nhì và 01 giải tư.
Cuộc thi An toàn Giao thông cho nụ cười ngày mai dành cho học sinh trung học năm học 2020-2021 do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban ATGT quốc gia và Công ty Honda tổ chức tổng kết và trao thưởng tại TP. Nha Trang vào ngày 10/4/2021. Phú Yên, có em Phan Hoàn Châu, học sinh Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng, huyện Tây Hòa đạt giải nhất nội dung dành cho học sinh, Thầy Đinh Hữu Công, Trường THPT Phạm Văn Đồng đạt giải nhì nội dung dành cho giáo viên.
7.3. An toàn giao thông, tình hình cháy, nổ, vi phạm môi trường
- An toàn giao thông
Theo số liệu thống kê, tai nạn giao thông trong tháng 4/2021 tăng số vụ,  số người bị thương và giảm số người chết so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng chỉ xảy ra tai nạn giao thông đường bộ, cụ thể: Từ ngày 15/3/2021-14/4/2021, toàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ tai nạn giao thông, tăng 1 vụ; làm chết 4 người, giảm 2 người; bị thương 6 người, tăng 4 người so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại tài sản 33 triệu đồng.
Lũy kế từ 15/12/2020-14/4/2021, toàn tỉnh chỉ xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 4 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 30 người, giảm 3 người; bị thương 34 người, giảm 6 người; thiệt hại tài sản 529,6 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, tai nạn giao thông đường bộ giảm 2 vụ; giảm 1 người chết; giảm 6 người bị thương.
- Tình hình cháy, nổ, vi phạm môi trường
Từ ngày 15/3/2021-14/4/2021 toàn tỉnh xảy ra 1 vụ cháy, ước thiệt hại tài sản 500 triệu đồng; lũy kế toàn tỉnh xảy ra 4 vụ cháy, ước thiệt hại tài sản 1.548,2 triệu đồng.
Các lực lượng chức năng đã phát hiện 6 vụ vi phạm môi trường, lập biên bản xử lý vi phạm 3 vụ, phạt tiền 10 triệu đồng. Lũy kế đến 15/4/2021, toàn tỉnh phát hiện 21 vụ vi phạm môi trường, lập biên bản xử lý vi phạm 15 vụ, phạt tiền 12,5 triệu đồng.
7.4. Các chính sách an sinh xã hội
Trung tâm Dịch vụ việc làm của Sở Lao động đã tư vấn nghề - việc làm 1.472 lượt người. Giới thiệu việc làm và cung ứng lao động 570 người đến các cơ quan, đơn vị trong và ngoài tỉnh thuộc các thành phần kinh tế. Tiếp nhận và giải quyết 424 trường hợp hưởng trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp.
Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt các chế độ ưu đãi đối với người có công, giải quyết chế độ cho 133 hồ sơ các loại cho các đối tượng chính sách. Xây mới 20 nhà, sửa chữa 03 nhà ở của người có công bị hư hỏng, xuống cấp .
Triển khai hoạt động truyền thông về công tác bình đẳng giới vì sự tiến bộ của phụ nữ trên lĩnh vực chính trị nhân dịp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.
Tổ chức họp gia đình có trẻ em tham gia chương trình phẫu thuật dị tật vùng mặt, đồng thời đưa các em đi phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quãng Ngãi do tổ chức OSV tài trợ, thời gian 22-27/4/2021./.
CỤC THỐNG KÊ TỈNH PHÚ YÊN
 
[1] Chia ra: cá các loại 8.200 tấn, tăng 2,4%; tôm 45 tấn, tăng 2,3%; thủy sản khác 299 tấn, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm trước.
[2] Do tháng 4/2020, vì hạn chế dịch bệnh Covid-19 lây lan nên nhiều hoạt động kinh tế bị hạn chế phát triển; hiện nay dịch bệnh cơ bản đã được kiểm soát hoàn toàn trên cả nước, cùng với thời tiết thuận lợi và nhiều ngày nghỉ lễ trong tháng 4 nên nhu cầu du lịch nội địa đang có xu hướng tăng mạnh trở lại nên làm cho doanh thu tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước.
[3] Trong đó so tháng trước, chỉ số giá lương thực giảm 1,29%, giảm chủ yếu các mặt hàng do đang vào mùa thu hoạch chính nên nguồn cùng dồi dào: Gạo tẻ thường giảm 1,87%; gạo tẻ ngon giảm 3,53%; khoai giảm 2,77%. Chỉ số giá thực phẩm giảm 0,98% do thời tiết thuận lợi, nguồn cung dồi dào và là mùa trồng trọt rau củ quả đa dạng phong phú nên giá cả giảm như: Thịt lợn giảm 2,91%; thịt bò giảm 1,10%; thịt gà giảm 1,25%; trứng tươi các loại giảm 3,71%; cá tươi, hoặc ướp lạnh giảm 1,67%; tôm tươi hoặc ướp lạnh giảm 2,9%; thuỷ hải sản tươi sống khác giảm 5,15%; bắp cải giảm 4,04%; su hào giảm 2,43%; cà chua giảm 2,86%; rau muống giảm 1,12%; rau dạng quả, củ giảm 4,15%; rau gia vị tươi, khô các loại giảm 7,14%; chuối giảm 3,88%; xoài giảm 5,03%...
[4] Tăng chủ yếu ở hàng hóa, dịch vụ: vận tải hành khách bằng đường sắt tăng 6,94%; vận tải hành khách bằng đường hàng không tăng 2,3%; xăng tăng 2,09%; dầu mỡ nhờn tăng 4,72%; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 1,21% và 1 số phụ tùng xe máy xe đạp.

  Ý kiến bạn đọc