Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên tháng 10 năm 2021

Thứ hai - 01/11/2021 23:47 212 0
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên tháng 10 năm 2021
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2021
 

Hiện nay tình hình dịch bệnh Covid-19 tại địa phương cơ bản được kiểm soát, hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ đã được nới lỏng. Để bảo đảm thực hiện hiệu quả mục tiêu kép, nhằm bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng Nhân dân, khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh, trật tự an toàn xã hội. UBND tỉnh đã triển khai thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ Quy định tạm thời thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10/2021 trên địa bàn tỉnh có bước phát triển.
1. Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
1.1. Nông nghiệp
- Trồng trọt:
Do thời tiết nắng hạn kéo dài, mực nước trong các hồ chứa thủy lợi trên địa bàn tỉnh ở mức thấp nên không đáp ứng đủ cho một số diện tích lúa cuối kênh, xa các hồ, đập. Trong thời gian lúa trổ bông thì gió Tây Nam hoạt động mạnh đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa, làm cho sản lượng lúa hè thu giảm so với cùng kỳ năm trước.
Lúa vụ hè thu đã gieo trồng được 24.550 ha, tăng 1,7% (tăng 420 ha) so vụ hè thu năm trước. Đến nay đã thu hoạch xong năng suất thu hoạch ước đạt 68,3 tạ/ha, giảm 4,7 tạ/ha so với vụ hè thu năm trước. Sản lượng lúa hè thu ước đạt 167,5 ngàn tấn, giảm 8,6 ngàn tấn so vụ hè thu trước.
Lúa vụ mùa đã tiến hành gieo sạ tính đến ngày 15/10 được 3.704 ha, bằng 88,4% so vụ mùa năm trước (do năm nay mùa mưa đến muộn hơn năm trước), trong đó: Thành phố Tuy Hòa 15 ha, Đồng Xuân 550 ha, Sông Cầu 773 ha, Tuy An 1.681 ha, Sơn Hòa 590 ha, Sông Hinh 95 ha. Tranh thủ thời tiết có mưa bà con nông dân làm đất xuống giống kịp thời vụ. Nhìn chung, bước đầu cây lúa vụ mùa đã nảy mầm và phát triển bình thường.
Cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày tính đến 15/10 diện tích gieo trồng so với cùng kỳ năm trước như: Ngô 4.019 ha, giảm 2,9%; mía 22.159 ha, tăng 2,6%; đậu tương 97 ha, tăng 4,1%; lạc 468 ha, giảm 30,2%; rau các loại 6.480 ha, giảm 7,2%; đậu các loại 3.041 ha, giảm 5%,....
Cây Lâu năm: Sản lượng mủ cao su đạt 5.117 tấn, tăng 7,6%; hồ tiêu 630 tấn, tăng 5,6%; dừa 17,4 ngàn tấn, tăng 4,7% ; điều 130 tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước.
Các loại cây ăn quả cho thu hoạch ước tính 10 tháng năm 2021: Chuối 21,1 ngàn tấn, tăng 2,6%; dứa 13,5 ngàn tấn, tăng 5,8%; xoài 1.620 tấn, tăng 1,5%; cam 500 tấn, tăng 43,7% so với cùng kỳ năm trước.
- Về tình hình sâu bệnh hại cây trồng: Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đang tăng cường công tác điều tra, phát hiện các đối tượng sinh vật gây hại lúa. Tập trung theo dõi, hướng dẫn phòng trừ kịp thời, tăng cường công tác chăm sóc lúa trà muộn để hạn chế sâu bệnh gây hại.... Tăng cường hướng dẫn nông dân sản xuất đúng quy trình canh tác cây rau, quy trình IPM, VietGap... theo dõi các loại sâu ăn lá, bọ nhảy, bệnh các loại...
+ Lúa vụ mùa: Sâu cuốn lá nhỏ gây hại 1,5 ha; sâu đục thân gây hại 0,8 ha... Ngoài ra, còn có bệnh khô vằn, chuột cắn phá gây hại cục bộ tỷ lệ thấp giai đoạn mạ, đòng rải rác ở các huyện.
+ Bọ nhảy gây hại 2,1 ha rau cải tại huyện Tuy An. Ngoài ra, còn có sâu xanh, sâu tơ,... gây hại trên các loại rau rải rác tại huyện Tuy An.
+ Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại 1,5 ha ở giai đoạn sinh trưởng 3 lá trổ cờ tại huyện Tuy An, Sông Hinh, Phú Hòa.
- Chăn nuôi:
Đàn gia súc, gia cầm tương đối ổn định. Giá thịt trâu, bò và gia cầm ổn định, giá thịt lợn giảm. Sản phẩm chăn nuôi gia súc và gia cầm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của dân cư trên địa bàn tỉnh. Sản lượng thịt trâu tăng 3,3%, thịt bò giảm 0,6%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 18,1%, sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng giảm 0,1%, riêng sản lượng thịt gà xuất chuồng tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tình hình dịch bệnh Viêm da nổi cục trâu, bò (VDNC): Tổng số bò mắc bệnh lũy kế đến nay là 4.611 con/3.155 hộ, của 73 xã thuộc 8 huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh, chết 233 con chủ yếu là bê con theo mẹ chưa đủ tuổi tiêm vắc xin và bò già yếu suy nhược cơ thể, số bò mắc bệnh còn lại đã được chữa khỏi.
Tăng cường thực hiện công tác kiểm dịch động vật tại các chốt, trạm trên địa bàn tỉnh; kiểm soát hoạt động mua bán tiêu thụ gia súc gia cầm, sản phẩm gia súc gia cầm.
- Về công tác thú y, tiếp tục tiêm phòng vắc xin đợt II năm 2021 cho gia súc, gia cầm:
Đàn trâu, bò: Vắc xin bệnh LMLM đợt II tiêm 68.833 con, lũy kế đến nay tiêm được 157.938 con. Vắc xin bệnh tụ huyết trùng đợt II tiêm được 19.200 con, lũy kế đến nay 60.512 con. Vắc xin bệnh Viêm da nổi cục đã tiêm 67.423 con, đạt tỷ lệ 56% trên tổng đàn diện được tiêm phòng (trong đó: Nhà nước hỗ trợ là 5.723 con, người dân tự mua 61.700 con)
Bệnh dại chó tiêm được 15.028 con.
Gia cầm: Tiêm vắc xin cúm 569.650 con (trong đó: Nhà nước hỗ trợ thị xã Đông Hòa và huyện Phú Hòa có nguy cơ cao 453.750 con, vắc xin người dân tự mua 115.900 con).
1.2. Lâm nghiệp
Trong tháng, trồng rừng tập trung được 1.400 ha, bằng 56% so với cùng kỳ năm trước; gỗ khai thác được 35 ngàn m3, tăng 8,8%; củi khai thác 20 ngàn ster, tăng 3,1%. Tính chung 10 tháng năm 2021, trồng rừng tập trung được 1.500 ha, bằng 46,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ rừng trồng khai thác đạt 278,1 ngàn m3, giảm 10,8%; sản lượng củi 93,5 ngàn ster, giảm 5,5%. Tổng diện tích rừng trồng tập trung đã khai thác khoảng 3.710 ha và khai thác cây gỗ trồng phân tán.
Ngành lâm nghiệp phối hợp với các ngành, chính quyền địa phương, luôn luôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR). Đồng thời tăng cường tuần tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm Luật lâm nghiệp. Nhưng thời tiết hanh, nắng nóng tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra, từ đầu năm đến nay xảy ra 07 vụ cháy rừng thiệt hại với diện tích cháy 92,58 ha (thị xã Sông Cầu 04 vụ/43,31 ha, huyện Sông Hinh 02 vụ/40,77 ha, Đồng Xuân 01 vụ/8,5 ha).
Từ đầu năm đến nay, công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện và lập biên bản xử lý kịp thời 240 vụ (tăng 11 vụ), tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Phá rừng trái pháp luật 50 vụ làm diện tích rừng bị giảm 39,44 ha. Xử lý 214 vụ vi phạm, phạt tiền khoảng 1,92 tỷ đồng; khối lượng gỗ tịch thu 222,81 m3.
1.3. Thuỷ sản
- Nuôi trồng: Diện tích nuôi trồng thủy sản 10 tháng ước tính đạt 2.650 ha, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích nuôi cá 244 ha, tăng 0,1%; diện tích nuôi tôm 2.113 ha, tăng 1% (tôm sú 256 ha, tăng 0,1%; thẻ chân trắng 1.857 ha, tăng 1,2 %); thủy sản khác 293 ha, tăng 0,1%.
Tình hình dịch bệnh trên nuôi trồng thủy sản: Bệnh trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng 60,51 ha tôm nuôi khoảng 20 đến 42 ngày tuổi bị bệnh đốm trắng 20,35 ha và hoại tử gan tụy cấp 40,16 ha, (thị xã Sông Cầu 2,5 ha, huyện Tuy An 8,61 ha, thị xã Đông Hòa 49,4 ha). Các ngành chức năng đã hướng dẫn các biện pháp phòng và chữa bệnh, cấp thuốc sát trùng Sodium Chlorite 20% để xử lý hồ nuôi.
- Sản lượng thủy sản tháng 10/2021 ước tính đạt 4.451 tấn, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước (cá 2.751 tấn, tăng 3,1%; tôm các loại 1.362 tấn, giảm 6,1%; thủy sản khác 338 tấn, giảm 0,3%). Chia ra:
Sản lượng thuỷ sản khai thác 2.655 tấn, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác biển 2.595 tấn, giảm 0,2%; khai thác nội địa 60 tấn, giảm 7,7%);
Sản lượng thủy sản nuôi trồng 1.796 tấn, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá 209 tấn, tăng 67,2%; tôm 1.345 tấn, giảm 6,1%; thủy sản khác 242 tấn, tăng 3%. Sản lượng cá trong tháng thu hoạch tăng mạnh là nhờ thu hoạch diện tích nuôi cá có năng suất cao như cá trê lai, cá mú nuôi nước mặn.
Tính chung 10 tháng, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản ước tính đạt 72.514 tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá các loại 55.538 tấn, tăng 0,1%; tôm 11.227 tấn, tăng 4,9%; thủy sản các loại 5.749 tấn, tăng 29,7%. Trong tổng sản lượng cá các loại khai thác biển, cá ngừ đại dương 2.801 tấn, chiếm 5,2% và giảm 4,2% so với cùng kỳ năm trước.
2. Sản xuất công nghiệp
Trên địa bàn tỉnh công tác tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, hộ dân cư được tỉnh quan tâm chỉ đạo kịp thời góp phần thúc đẩy phục hồi kinh tế, phát triển sản xuất, kinh doanh.
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2021 ước tính tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 5%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,8%[1]; ngành sản xuất, phân phối điện, hơi nước tăng 10,3%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 6,1%.
Trong tháng một số sản phẩm công nghiệp sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Chip điện tử 44 triệu sản phẩm, tăng 12,8%; điện sản xuất 225,6 triệu kwh, tăng 9,9%; thuốc viên các loại 205 triệu viên, tăng 6,8%; dăm gỗ các loại 8.050 tấn, tăng 6,7%; nhân hạt điều các loại 1.446 tấn, tăng 5,2%; quần áo các loại 1.410 ngàn sản phẩm, tăng 4,8%; điện thương phẩm 81 triệu kwh, tăng 4,5%; nước uống được 1.061 ngàn m3, tăng 4,1%; hải sản các loại 1.247 tấn, tăng 2,7%; mây tre lá các loại 41 ngàn sản phẩm, tăng 2,5%; phân bón các loại 3.715 tấn, tăng 2,1%; ván lạng gỗ các loại 570 tấn, tăng 1,4%; viên nén 1.310 m3, tăng 0,5%.
Bên cạnh đó một số sản phẩm giảm như: Két nhựa các loại 7.000 két, giảm 14,2%; bia các loại 3.525 ngàn lít, giảm 12,2%; trang in các loại 150 triệu trang, giảm 10,7%; tinh bột sắn 10.200 tấn, giảm 4,6%; xi măng các loại 6.850 tấn, giảm 3,2%; đá xây dựng các loại 70.860 m3, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 10 tháng chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 17,2%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,2%; ngành sản xuất, phân phối điện, hơi nước tăng 8,8%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 1%.
3. Tình hình đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp
Tính từ đầu năm đến ngày 01/10/2021 trên địa bàn tỉnh Phú Yên có 281 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 32% so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký là 3.049,9 tỷ đồng, giảm 34,5%; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,9 tỷ đồng/01 doanh nghiệp. Bên cạnh đó, có 12 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 50% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động là 118 doanh nghiệp, tăng 13,5%; số doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh là 62 doanh nghiệp, giảm 3,1%.
4. Đầu tư
Tình hình thực hiện giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các dự án quan trọng được các Sở, ban, ngành, địa phương đẩy nhanh. Do đó, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2021 ước tính tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2021 ước tính 373 tỷ đồng, tăng 18,3% so tháng trước và tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 276,8 tỷ đồng, tăng 18,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 95,5 tỷ đồng, giảm 23,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 0,7 tỷ đồng, giảm 39,8%.
Lũy kế 10 tháng năm 2021 vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tính 3.050,3 tỷ đồng đạt 52,7% so kế hoạch năm và giảm 25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 1.929,3 tỷ đồng, giảm 30,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 1.114,8 tỷ đồng, giảm 12,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 6,2 tỷ đồng, giảm 26,6%.
Vốn đầu tư thực hiện ở một số ngành có giá trị khối lượng lớn như: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản thực hiện 772,4 tỷ đồng, giảm 39,5%; xây dựng thực hiện 304,3 tỷ đồng, giảm 0,4%; vận tải và kho bãi thực hiện 1.027,4 tỷ đồng, giảm 8,4%; hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội, QLNN, ANQP; Đảm bảo xã hội bắt buộc thực hiện 112,2 tỷ đồng, giảm 37,9%; giáo dục đào tạo thực hiện 248,4 tỷ đồng, giảm 16% so với cùng kỳ năm trước.
5. Tài chính, ngân hàng
5.1. Thu, chi ngân sách
Tổng thu NSNN trên địa bàn tính đến ngày 18/10/2021 đạt 6.363 tỷ đồng, đạt 120% dự toán Trung ương giao (DTTW); đạt 74% dự toán tỉnh giao.
Tổng chi NSĐP 8.017 tỷ đồng, đạt 86% DTTW; đạt 63% dự toán tỉnh giao; trong đó, chi thường xuyên là 3.962 tỷ đồng.
5.2. Hoạt động ngân hàng
Nhìn chung, các Tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh tuân thủ và thực hiện nghiêm túc các quy định về lãi suất.
Hiện nay, lãi suất huy động bằng VND phổ biến ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 01 tháng; 2,2-4,0%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 01 tháng đến dưới 06 tháng; 3,7-6,3%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 06 tháng đến dưới 12 tháng; 4,0-7,1%/năm đối với kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất huy động USD là 0%/năm.
Lãi suất cho vay VND hiện phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 4,3- 4,5%/năm đối với ngắn hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường và cho vay tiêu dùng ở mức 4,5-15%/năm đối với ngắn hạn; 7,43-16%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn phổ biến ở mức 2,3-7,8%/năm, lãi suất cho vay trung, dài hạn ở mức 4,2-9,1%/năm.
- Tổng huy động vốn trên toàn địa bàn 10 tháng ước đạt 31.105 tỷ đồng, so với cuối năm 2020 tăng 8,1%; trong đó, phân theo loại tiền: Tiền gửi VND 31.004 tỷ đồng, chiếm 99,68% tổng nguồn vốn, so với cuối năm 2020 tăng 7,9%; tiền gửi ngoại tệ quy VND 405 tỷ đồng, so với cuối năm 2020 tăng 28,6%. Phân theo cơ cấu tiền gửi: Tiền gửi tiết kiệm 26.390 tỷ đồng, chiếm 84,8% tổng nguồn vốn, so với cuối năm 2020 tăng 6,6%; Tiền gửi thanh toán 4.614 tỷ đồng, so với cuối năm 2020 tăng 17,43%.
- Tổng dư nợ cho vay trên địa bàn 10 tháng ước đạt 38.214 tỷ đồng, so với cuối năm 2020 tăng 5,6%; trong đó, dư nợ cho vay bằng VND 37.439 tỷ đồng, chiếm 98% tổng dư nợ, so với cuối năm 2020 tăng 5%. Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn: Dư nợ cho vay ngắn hạn 21.825 tỷ đồng, chiếm 57,1% tổng dư nợ, so với cuối năm 2020 tăng 9%; dư nợ cho vay trung, dài hạn 16.389 tỷ đồng, so với cuối năm 2020 tăng 1,34%.
- Đến cuối tháng 9/2021, nợ xấu trên toàn địa bàn chiếm tỷ lệ 0,84%/ tổng dư nợ cho vay. Ước tính đến cuối tháng 10/2021 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 0,8%.
- Doanh số giao dịch ngoại tệ quy VND trong tính đến 15/9/2021 đạt 517,3 tỷ đồng, trong đó doanh số mua vào là 321,6 tỷ đồng, doanh số bán ra là 195,7 tỷ đồng.
6. Thương mại, giá cả, dịch vụ
Tháng 10/2021, tình hình dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Phú Yên đã được khống chế và kiểm soát, hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ được nới lỏng và có kiểm soát, việc lưu thông hàng hóa còn hạn chế nhất là các sản phẩm trồng trọt. Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường được các cấp, các ngành tăng cường nên đã góp phần bình ổn thị trường hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh. Các đơn vị kinh doanh thương mại và dịch vụ luôn chủ động trong kinh doanh để phù hợp với trạng thái hoạt động bình thường mới và các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19; hàng hóa phong phú đảm bảo phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong tỉnh.
Sở Công thương Phú Yên tổ chức chương trình kết nối giao thương doanh nghiệp Phú Yên - Đà Nẵng năm 2021, vào ngày 22/10/2021 với hình thức hội nghị trực tuyến, nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Phú Yên mở rộng kênh phân phối trong bối cảnh dịch Covid-19; đồng thời tạo điều kiện kết nối, giao thương giữa các đơn vị phân phối và các đơn vị sản xuất, góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí, đảm bảo nguyên tắc phòng chống dịch.
Hoạt động vận tải hành khách nội tỉnh được phép hoạt động kể từ ngày 14/9/2021. Từ ngày 15/10/2021 đã tổ chức hoạt động thí điểm vận chuyển hành khách liên tỉnh từ Phú Yên đi và về từ các tỉnh, thành phố: Bình Định, Khánh Hòa, Gia Lai, Kon Tum và thành phố Hồ Chí Minh. Tăng cường thiết lập các chốt chặn kiểm tra, xử lý nghiêm các xe vận chuyển đón, trả khách ra vào địa bàn, các trường hợp “xe dù”, đậu đỗ không đúng nơi quy định, thông tin để hành khách biết về hoạt động vận chuyển. Cảng hàng không Tuy Hòa bắt đầu hoạt động mở tuyến bay từ Tuy Hòa - TP. Hồ Chí Minh và ngược lại lại từ ngày 10/10/2021; Tuyến bay Tuy Hòa - Hà Nội và ngược lại từ ngày 23/10/2021 để phục vụ việc đi lại của Nhân dân. Vận tải đường sắt hoạt động thí điểm trở lại từ ngày 13/10/2021.
6.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
          Hoạt động thương mại tháng 10/2021 có mức tăng trưởng cao so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước hoạt động lưu trú, ăn uống, lữ hành và các dịch vụ khác do chịu tác động của dịch Covid-19 nên doanh thu giảm. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2021 đạt 3.039,2 tỷ đồng, tăng 28,5% so với tháng trước và tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa 2.608,9 tỷ đồng, tăng 18,3% so với tháng trước và tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 10/2021 ước tính đạt 304,5 tỷ đồng, gấp 5,3 lần so với tháng trước và giảm 19,4% so với cùng kỳ năm trước và doanh thu dịch vụ khác 125,8 tỷ đồng, tăng 23,7% so với tháng trước giảm 14,2% so với cùng kỳ năm trước.
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 10/2021, tăng 18,3% so với tháng trước và tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm ngành hàng chủ yếu, có 08 nhóm tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) là nhóm có mức tăng cao nhất, tăng 36,5% so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng giá gas thế giới tăng và mức tiêu dùng hộ gia đình tăng, kéo theo giá gas trong nước tăng. 04 nhóm có mức giảm, trong đó nhóm ngành hàng may mặc giảm nhiều nhất, giảm 12,7%, do sức mua yếu nên đạt doanh thu thấp và giảm so với cùng kỳ năm trước.
- Doanh thu dịch vụ lưu trú ăn uống và du lịch lữ hành ước tính tháng 10/2021 là 304,5 tỷ đồng, gấp 5,3 lần so với tháng trước và giảm 19,4% so với cùng kỳ năm trước. trong đó, so với cùng kỳ năm trước, doanh thu dịch vụ lưu trú gần 3 tỷ đồng, giảm 75,5%; doanh thu dịch vụ ăn uống 301,5 tỷ đồng, giảm 17,4% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động du lịch lữ hành không có doanh thu vì các Công ty lữ hành chưa có tour để hoạt động.
Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 12 khách sạn đủ tiêu chuẩn đăng ký nhận thực hiện cách ly đối tượng F1 với công suất gần 400 phòng.
- Dịch vụ khác dự tính 125,8 tỷ đồng, tăng 23,7% so với tháng trước và giảm 14,2% so với cùng kỳ năm trước. Một số dịch vụ giảm so với cùng kỳ năm trước như: Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ giảm 3,6%; dịch vụ giáo dục và đào tạo 4,4 tỷ đồng giảm 59,1%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 45,3%, dịch vụ khác giảm 1,7%.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng ước tính 28.018,9 tỷ đồng, đạt 74,5% so kế hoạch, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Kinh doanh thương nghiệp 24.462,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 87,3% và tăng 2,8%; lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành 2.429,2 tỷ đồng, chiếm 8,7% và giảm 24,8% dịch vụ 1.127,4 tỷ đồng, chiếm 4% và giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước.
6.2. Chỉ số giá
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tỉnh Phú Yên tháng 10/2021 tăng 0,09% so tháng trước, trong đó 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, trong đó có 3 nhóm tăng cao là: Nhóm giao thông tăng 2,39%, do xăng tăng 5,61%, dầu diezel tăng 7,54%, thuê ô tô, xe máy tự lái tăng 3,54%, dịch vụ giao nhận hành lý và hành lý gửi tăng 5,1%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,01% do điện sinh hoạt tăng 8,54%, giá gas thế giới tăng làm gas trong nước tăng 10,29%, giá dầu hoả tăng 8,01%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,58% do giá thuốc lá tăng 2,58%. Riêng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,37%, do tác động của các hàng hóa, dịch vụ như: Giá lương thực giảm 0,17% (gạo tẻ thường giảm 0,36% do giá lúa giảm nhẹ, khoai giảm 1,1%, sắn giảm 0,57% do đang là mùa vụ chính); thực phẩm giảm 2,83%, do thời tiết thuận lợi cho trồng trọt và hàng hóa xuất bán đi các tỉnh khác bị hạn chế do dịch bệnh nên giá giảm: Thịt lợn giảm 10,07%; nội tạng động vật giảm 7,12%; thịt gia súc đông lạnh giảm 5,18%; thịt quay, giò, chả giảm 3,73%; mỡ động vật giảm 6,02%; trứng tươi các loại giảm 7,31%; tôm tươi hoặc ướp lạnh giảm 4,41%; bắp cải giảm 6,77%; su hào giảm 7,74%; cà chua giảm 11,83%; rau muống giảm 4,92%; đỗ quả tươi giảm 15,2%; rau dạng quả, củ giảm 8,46%; măng tươi giảm 7,02%; quả có múi giảm 4,8%; các loại lá để uống khác giảm 3,24%...
CPI tháng 10/2021 tăng 3,04% so cùng kỳ năm trước, tăng chủ yếu ở các nhóm hàng hóa và dịch vụ như: Ăn uống ngoài gia đình tăng 3,79%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 4,28%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 3,09%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,6%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,53%; giao thông tăng 17,45%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,68%.
CPI tháng 10/2021 tăng 2,44% so tháng 12 năm trước: Nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,37% (trong đó: Lương thực giảm 2,42%, thực phẩm giảm 2,99%, ăn uống ngoài gia đình tăng 3,36%); đồ uống và thuốc lá tăng 3,9%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 1,96%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,18%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,67%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,22%; giao thông tăng 15,24%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; giáo dục tăng 0,27%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,25%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,08%.
- Giá vàng 99,99 bình quân trong tháng 10/2021 là 5.118.000 đồng/chỉ; so tháng trước tăng 0,24%, so cùng tháng năm trước giảm 4,51%, so tháng 12 năm trước giảm 5,78%, so kỳ gốc 2019 tăng 31,47%. Giá Đô la Mỹ bình quân trong tháng là 22.885 VND/USD; so tháng trước tăng 0,03%, so cùng tháng năm trước giảm 1,68%, so tháng 12 năm trước giảm 1,49%, so kỳ gốc 2019 giảm 1,71%.
- CPI bình quân 10 tháng năm 2021 so bình quân cùng kỳ năm trước tăng 2,77%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ CPI có 10 nhóm hàng có chỉ số giá tăng: Nhóm Nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,48% (trong đó: Lương thực tăng 9,47%, thực phẩm giảm 0,37%, ăn uống ngoài gia đình tăng 7,45%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,09%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 2,31%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,64%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,81%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,15%; giao thông tăng 9,74%; giáo dục tăng 4,11%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,05%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,92%. 1 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,31%.
      - Bình quân 10 tháng năm 2021, giá vàng 99,99 là 5.289.000 đồng/chỉ; so bình quân cùng kỳ tăng 9,18%. Giá Đô la Mỹ là 2.307.600 VND/100USD; so bình quân cùng kỳ giảm 1,11%.
 6.3. Giao thông vận tải
Trong tháng công tác quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh vận tải của tỉnh tiếp tục được tăng cường, các đơn vị kinh doanh vận tải chấp hành nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, đảm bảo an toàn cho người điều khiển, nhân viên phục vụ và hành khách khi tham gia giao thông, tuy nhiên lượng hành khách đi lại còn hạn chế do e ngại lây bệnh dịch.
          Tổng doanh thu ngành vận tải tháng 10/2021 ước tính 359,7 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Doanh thu vận tải hành khách 26,5 tỷ đồng, giảm 39,1%; doanh thu vận tải hàng hóa 331,2 tỷ đồng, tăng 16,5%; kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 2 tỷ đồng, bằng 49,3%. Trong tổng doanh thu vận tải, doanh thu vận tải đường bộ 357,7 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước.
Vận chuyển hành khách chủ yếu là đường bộ tháng 10 dự tính 659,7 ngàn lượt khách, giảm 40,3% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đường bộ 25.073,2 ngàn lượt khách.km, giảm 43,5%.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển chủ yếu là đường bộ tháng 10 dự tính 1.189,9 ngàn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển đường bộ 91.663,1 ngàn tấn.km, tăng 2,4%.
- Lũy kế 10 tháng, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải dự tính 2.613 tỷ đồng, giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách 275,2 tỷ đồng, giảm 39,2%; vận tải hàng hóa là 2.295 tỷ đồng, giảm 4,6%. Trong tổng doanh thu hoạt động vận tải, vận tải đường bộ là 2.570,2 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 98,4%, giảm 10% so với cùng kỳ năm trước.
 Khối lượng vận tải hành khách 6.384,7 nghìn lượt khách, giảm 40,5% và luân chuyển 351.366,7 nghìn lượt khách.km, giảm 41,4%. Khối lượng hàng hóa vận chuyển 8.008,1 nghìn tấn, giảm 15%, luân chuyển 567.830 nghìn tấn.km, giảm 14,6% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải hàng không, lượng hành khách qua Cảng hàng không Tuy Hòa trong tháng đạt 207 lượt khách; lũy kế 10 tháng đạt 169.599 lượt khách[2], giảm 50,3% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải đường sắt, lượng hành khách lên tàu các Ga trên địa bàn tỉnh trong tháng đạt 115 lượt khách; lũy kế 10 tháng vận chuyển 35.523 lượt khách, giảm 58,5% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải đường biển, lượng hàng hóa thông qua cảng Vũng Rô trong tháng đạt 15,9 tấn; lũy kế 10 tháng đạt 180,9 ngàn tấn, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước.
7. Các vấn đề xã hội
7.1. Hoạt động văn hóa – Thể thao
Tuyên truyền trực quan, trang trí khánh tiết nhân dịp Lễ kỷ niệm 91 năm ngày thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Phú Yên (05/10/1930 - 05/10/2021), ngày Quốc tế Người cao tuổi (01/10), ngày Thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (20/10) và kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển.  
Thư viện tỉnh phục vụ 1.100 lượt bạn đọc với 1.000 lượt tài liệu trực tuyến qua website của thư viện, tổ chức trưng bày, triển lãm, giới thiệu sách hưởng ứng Tuần lễ học tập suốt đời năm 2021.
Bảo tàng tỉnh tổ chức phối hợp các đơn vị, địa phương liên quan kiểm tra, bảo quản hiện vật trưng bày tại các điểm di tích (Địa đạo Gò Thì Thùng, Thành An Thổ, Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tại Phú Yên).
 Tạm dừng các hoạt động thể dục thể thao để phòng, chống dịch Covid-19.
7.2. Y tế
Tính đến ngày 20/10/2021, bệnh sốt xuất huyết phát hiện 02 ổ dịch, 37 ca mắc. So với cùng kỳ năm 2020: giảm 26 ổ dịch, số mắc giảm 94,7%. Lũy kế toàn tỉnh có 20 ổ dịch, 614 ca mắc, 02 ca tử vong. So với cùng kỳ năm 2020: giảm 219 ổ dịch, số mắc giảm 88,3%, tử vong tăng 01 ca; Bệnh tay chân miệng không có ca mắc mới. Lũy kế toàn tỉnh có 145 ca mắc, giảm 55,2% so với cùng kỳ năm 2020; Sốt rét có 01 trường hợp mắc, giảm 75% so với cùng kỳ năm 2020. Lũy kế toàn tỉnh có 37 ca mắc, giảm 71,5% so với cùng kỳ năm 2020.
Đã phát hiện mới 5 trường hợp nhiễm HIV(+) (TP. Tuy Hòa 01, Phú Hòa 02, Tây Hòa 02). Luỹ kế toàn tỉnh có 852 ca nhiễm HIV (trong đó 306 bệnh nhân AIDS, 206 bệnh nhân tử vong). 100% bệnh nhân HIV/AIDS ở cộng đồng tham gia BHYT.
Chương trình tiêm chủng mở rộng, đến cuối tháng 10/2021 đạt 55,3% số cháu dưới 01 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 8 loại Vaccine phòng bệnh; số bà mẹ mang thai được tiêm phòng uốn ván 2 mũi đạt tỷ lệ 42,0%.
Trạm chuyên khoa Lao khám 125 lượt bệnh nhân, phát hiện mới 17 trường hợp mắc, trong đó có 10 trường hợp có bằng chứng vi khuẩn học. Luỹ kế đến nay đã khám 2.967 lượt, phát hiện mới 396 trường hợp mắc, trong đó có 237 trường hợp có bằng chứng vi khuẩn học; Trạm chuyên khoa Tâm thần đã khám 292 lượt (trong đó tham gia khám giám định y khoa 29 lượt, khám giám định pháp y là 16 lượt). Lũy kế đến cuối tháng 10 đã khám 2.562 lượt; Trung tâm Giám định y khoa đã khám cho 1.658 lượt người, trong đó có 1.586 người khám dự tuyển, tuyển dụng, 72 người khám giám định. Luỹ kế đến nay đã khám cho 7.853 lượt người; Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc-MP-TP đã kiểm nghiệm được 23 mẫu (9 mẫu đông dược, 13 mẫu thuốc, 1 mẫu thực phẩm), tất cả đều đạt chất lượng. Lũy kế đến nay đã kiểm nghiệm được 411 mẫu, trong đó có 11 mẫu không đạt chất lượng.
Tăng cường tuyên truyền cho cán bộ và người dân trên toàn tỉnh hiểu về an toàn vệ sinh thực phẩm bằng nhiều hình thức: Băng rôn, tờ rơi, phát thanh, truyền hình. Tiếp tục tuyên truyền công tác phòng chống dịch Covid 19 tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng thiết yếu do Ngành Y tế quản lý. Triển khai công tác đảm bảo an toàn thực phẩm phục vụ kế hoạch tham gia diễn tập khu vực phòng thủ PY21 từ ngày 17 - 19/10/2021.
Hiện nay, Tình hình dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Phú Yên đã được kiểm soát, sở Y tế đã phục hồi hoạt động khám bệnh, chữa bệnh đa khoa và chuyên khoa cho các cơ sở khám chữa bệnh phù hợp với tình hình mới. Tuy nhiên, để ứng phó với các tình huống dịch Covid-19 có thể xảy ra, sở Y tế đã chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh, mỗi đơn vị bố trí từ 30-50 giường để điều trị bệnh nhân Covid-19.
7.3. Giáo dục
Từ đầu năm học đến nay, tất cả các trường học trên địa bàn tỉnh chưa tập trung học sinh đến trường để tổ chức dạy học mà sử dụng các phương pháp dạy học trực tuyến/linh hoạt; phối hợp với phụ huynh học sinh để hướng dẫn học sinh học tập thông qua các ứng dụng như Zalo, Messenger, Email... hoặc hướng dẫn học sinh tự học và có biện pháp hỗ trợ phù hợp cho từng đối tượng học sinh.
Kết quả triển khai các hình thức dạy học trong điều kiện phòng, chống dịch Covid-19 từ đầu năm học đến nay, như sau:
Cấp học Dạy học
trực tuyến
Dạy học
Qua truyền hình
Dạy học
linh hoạt
Số trường tổ chức Học sinh tham gia Số trường tổ chức Học sinh tham gia Số trường tổ chức Học sinh tham gia
Tiểu học 90/134 (67,2%) 32,2% 19/134 (14,1%) 1,4% 25/134 (18,7%) 66,4%  
THCS 94/103 (91,3%) 86,6% - - 5/103 (9,7%) 13,4%  
THPT 33/33 (100%) 97,4% - - - 2,6%  
Tiếp tục vận động quyên góp ủng hộ trang thiết bị học tập trực tuyến cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Tính đến hết ngày 20/10/2021 đã vận động được gần 299,36 triệu đồng.
Công tác triển khai chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt tài liệu giáo dục địa phương lớp 6. Các bộ phận liên quan đang triển khai việc in ấn, phát hành. Tổng hợp danh mục sách giáo khoa lớp 6, năm học 2021-2022 trên địa bàn tỉnh.


7.4. Trật tự an toàn xã hội
- Tai nạn giao thông
Theo số liệu thống kê, tai nạn giao thông trong tháng 10/2021 tăng số vụ, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể:
Từ ngày 15/9/2021-14/10/2021, toàn tỉnh đã xảy ra 16 vụ tai nạn giao thông, tăng 02 vụ; làm chết 07 người, tăng 01 người; bị thương 13 người, tăng 03 người so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại tài sản 20,5 triệu đồng. Trong tháng chỉ xảy ra tai nạn giao thông đường bộ, không xảy ra tai nạn giao thông đường sắt.
Lũy kế từ 15/12/2020-14/10/2021, toàn tỉnh đã xảy ra 103 vụ tai nạn giao thông, giảm 31 vụ; làm chết 62 người, giảm 19 người; bị thương 70 người, giảm 25 người so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại tài sản 849,9 triệu đồng. Trong đó, tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 102 vụ, giảm 30 vụ; làm chết 61 người, giảm 18 người; bị thương 70 người, giảm 25 người bị thương so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại tài sản 849,9 triệu đồng. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 01 vụ, làm chết 01 người, không có thiệt hại về tài sản, so với cùng kỳ năm trước giảm 01 vụ, giảm 01 người chết.
- Tình hình cháy, nổ - vi phạm môi trường
Từ ngày 15/9/2021-14/10/2021 toàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy, ước thiệt hại tài sản 100 triệu đồng. Lũy kế đến 14/10/2021, toàn tỉnh xảy ra 11 vụ cháy, 1 vụ nổ, 2 người bị thương do cháy nổ, ước thiệt hại tài sản 36.983,2 triệu đồng.
Các lực lượng chức năng đã phát hiện 23 vụ vi phạm môi trường, lập biên bản xử lý vi phạm 19 vụ, phạt tiền 27 triệu đồng. Lũy kế đến 15/10/2021, toàn tỉnh phát hiện 196 vụ vi phạm môi trường, lập biên bản xử lý vi phạm 93 vụ, phạt tiền 87,3 triệu đồng.
7.5. Các chính sách an sinh xã hội
Trung tâm Dịch vụ việc làm của Sở Lao động đã tư vấn nghề - việc làm 613 lượt người. Giới thiệu việc làm và cung ứng lao động 291 người đến các cơ quan, đơn vị trong và ngoài tỉnh thuộc các thành phần kinh tế. Tiếp nhận 291 hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp và có quyết định hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp cho 368 trường hợp.
Tính đến ngày 19/10/2021, UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt kinh phí hỗ trợ cho 29.742 đối tượng với tổng số tiền gần 49,11 tỷ đồng (Bao gồm các đối tượng hộ kinh doanh, lao động tự do, lao động ngừng việc, lao động tạm hoãn hợp đồng lao động và các đối tượng thực hiện cách ly y tế theo yêu cầu cơ quan nhà nước).
Phối hợp cùng Cơ quan dự trữ quốc gia khu vực Nam Trung bộ và UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện hỗ trợ gạo cứu đói theo Quyết định phân bổ gạo của Thủ tướng Chính phủ cấp. Xây dựng kế hoạch, hướng dẫn triển khai việc cấp phát đến tận tay người dân gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19 có nguy cơ thiếu đói.
Tổng hợp danh sách gia hạn học bổng năm học 2021-2022 của Quỹ Thiện Tâm cho các học sinh, sinh viên nghèo có thành tích học tập khá, giỏi năm học 2020 - 2021 gửi Quỹ Thiện Tâm xem xét, hỗ trợ. Kết quả đến thời điểm hiện tại có 88 học sinh đủ điều kiện, với mức hỗ trợ từ 500.000-700.000 đồng/tháng/học sinh.
Thực hiện điều chỉnh mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo Nghị định số 58/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ. Kết quả thực hiện điều chỉnh trợ cấp cho 72 mẹ Việt Nam anh hùng còn sống.
Đề nghị Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam hỗ trợ cho 07 trẻ em mồ côi do Covid-19 và 01 trẻ em là con của sản phụ bị nhiễm Covid-19. Tổng số tiền hỗ trợ là 36 triệu đồng. Tiếp nhận 5.000 khẩu trang trẻ em do Quỹ BTTEVN hỗ trợ trao cho 500 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn./.
CỤC THỐNG KÊ TỈNH PHÚ YÊN
 
 
[1] Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo theo ngành cấp II có chỉ số sản xuất trong tháng 10/2021 tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 9,9%; sản xuất thuốc hóa dược và dược liệu tăng 9,6%; sản xuất trang phục tăng 8,1%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 4,3%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,9%. Bên cạnh đó một số ngành công nghiệp cấp II giảm do ảnh hưởng dịch Covid-19 như: Sản xuất đồ uống giảm 40,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 8,4%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 7,6%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 3,9% so với cùng kỳ năm trước.
 
   [2] Tuyến TP. HCM – Tuy Hòa: Từ đầu năm đến ngày 14/10/2021 thực hiện 952 chuyến bay, vận chuyển 112.881 HK, hệ số ghế sử dụng 59,7%, giảm 27,9% số khách và giảm 7,8% số chuyến so với cùng kỳ năm trước. Các Hãng hàng không khai thác trở lại: Vietnam Airlines, VietJet Air, Bamboo Airways từ ngày 10/10/2021.  
   Tuyến Hà Nội – Tuy Hòa: Từ đầu năm đến ngày 14/10/2021 thực hiện 508 chuyến bay, vận chuyển 56.718 HK, hệ số ghế sử dụng 53,9%, giảm 54,4% số khách và giảm 40,1% số chuyến so với cùng kỳ năm trước.