Tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Phú Yên Tháng 01 năm 2021

Thứ năm - 28/01/2021 20:15 914 0
Tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Phú Yên Tháng 01 năm 2021
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2021
1. Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
1.1. Nông nghiệp
Tính đến ngày 15/01/2021, toàn tỉnh đã gieo cấy được hơn 24,9 ngàn ha lúa đông xuân 2020-2021, giảm 5,7% so với cùng kỳ năm trước (do lịch gieo sạ chậm theo âm lịch); diện tích lúa trà sớm (sạ từ ngày 01-20/12/2020) là 6.613 ha, đang giai đoạn sinh trưởng mạ - đẻ nhánh; lúa trà chính vụ (sạ từ ngày 20/12 đến nay) là 18.290 ha, đang giai đoạn sinh trưởng mạ.
Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, tính đến nay, các địa phương trên toàn tỉnh đã gieo trồng được 589 ha ngô, tăng 3,33%; mía 1.350 ha, tăng 1,9%, rau các loại 1.695 ha, tăng 2,7%, đậu các loại 385 ha, tăng 1,3%... so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh việc chăm sóc các cây trồng cạn bà con nông dân tập trung chăm sóc hoa, cây cảnh để kịp phục vụ Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021.
Một số đối tượng sâu bệnh trên cây trồng như: Lúa đông xuân, bọ trĩ gây hại 10 ha, ốc bươu vàng gây hại 15 ha và một số đối tượng gây hại rải rác như chuột, sâu năn, sâu keo, sâu đục thân trên cây lúa giai đoạn mạ - đẻ nhánh. Cây sắn, bệnh khảm lá virus gây hại với diện tích 4.468 ha (tại huyện Sông Hinh 3.300 ha, Đồng Xuân 1.000 ha). Cây mía, sâu đục thân gây hại 120 ha, bệnh đốm vòng gây hại 15 ha, bệnh cháy lá 228 ha, ngoài ra còn bệnh thối đỏ gây hại rải rác 60 ha tại huyện Sông Hinh. Cây dứa, bệnh thối nõn gây hại 6,5 ha tại huyện Phú Hòa...
Chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh ổn định. Với thời tiết mưa lạnh, rét, sức đề kháng của đàn vật nuôi giảm, các bệnh truyền nhiễm của các đàn gia súc, gia cầm phát sinh lẻ tẻ tại các địa phương. Cơ quan thú y cùng với chính quyền địa phương triển khai, hướng dẫn bà con chăn nuôi vệ sinh tiêu độc, khử trùng khu vực chăn nuôi, điều trị bệnh và tiếp tục theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi. Công tác tiêm phòng, chăm sóc, phát triển đàn gia súc, gia cầm luỹ kế đợt II/2020 (từ tháng 10/2020 đến ngày 13/01/2021) tiêm được: Tiêm vaccine dại chó được 35 con. Tiêm vaccine cúm gia cầm do ngân sách Nhà nước hỗ trợ được 402.800 con. Tiêm vaccine cúm gia cầm do người dân mua được 6.500 con.
1.2. Lâm nghiệp
Khai thác 80 ha rừng trồng tập trung với sản lượng 4.300 m3 tăng 0,1%; củi khai thác 1.000 ster bằng 100% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng, tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra phát hiện và lập biên bản 07 vụ, trong đó, 01 vụ khai thác rừng trái pháp luật; 02 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật; 04 vụ tàng trữ, mua bán, chế biến lâm sản trái pháp luật. Xử lý vi phạm hành chính 06 vụ; lâm sản tịch thu 8,46 m3 gỗ thông thường các loại; 0,32 m3 gỗ nguy cấp, quý, hiếm; thu, nộp ngân sách 922,71 triệu đồng.
1.3. Thuỷ sản
Để giảm thiểu tác động xấu của khí hậu, thời tiết đến nuôi trồng thủy sản và hạn chế dịch bệnh xảy ra, góp phần đảm bảo đạt các chỉ tiêu về sản lượng nuôi trồng trong năm 2021. Các ngành chức năng hướng dẫn người nuôi trồng thủy sản cải tạo kỹ ao nuôi, vệ sinh sạch sẽ lồng bè và vùng nuôi, chọn con giống tốt, sạch bệnh. Đồng thời theo dõi sát vụ nuôi, kịp thời đưa ra những cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh đảm bảo hiệu quả các vụ nuôi trong năm.
Lịch thời vụ  thả nuôi tôm ở vụ 01 bắt đầu từ tháng 02/2021, tuân thủ lịch thời vụ và các qui trình kỹ thuật trong quá trình nuôi. Do đó diện tích thả nuôi trong tháng dự ước 90 ha, giảm 31,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá các loại 50 ha bằng cùng kỳ năm trước (chủ yếu thả nuôi cá nước ngọt); tôm thẻ chân trắng 18,5 ha (diện tích nuôi chủ yếu của thành phố Tuy Hòa 3,5 ha, thị xã Đông Hòa 15 ha); thủy sản các loại 21 ha bằng cùng kỳ năm trước.
Sản lượng tôm Post sản xuất trong tháng đạt 5 triệu con bằng cùng kỳ năm trước[1].
Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng đạt 4.254 tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá các loại 3.936 tấn, giảm 0,6%; tôm 70 tấn, tăng 20,7% (trong đó: Tôm hùm thu hoạch 30 tấn); thủy sản khác 248 tấn, giảm 2,7% do những ngày đầu tháng 01/2021 biển động nên ngư dân hạn chế ra khơi.
2. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp dự tính tháng 01/2021 tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,4%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,9%[2]; sản xuất, phân phối điện và hơi nước tăng 14,1%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 4,7%.
Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) ước tính tháng 01/2021 đạt 1.627 tỷ đồng, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, chia theo ngành: Công nghiệp khai khoáng 16,7 tỷ đồng, tăng 1,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo 1.388 tỷ đồng, tăng 6,5%; sản xuất và phân phối điện 210,9 tỷ đồng, tăng 20,2%; cung cấp nước và xử lý rác thải 11,4 tỷ đồng, tăng 5,2%.
Trong tháng các đơn vị sản xuất đẩy mạnh sản xuất những mặt hàng phục vụ nhu cầu xây dựng, sửa chữa và tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán, chủ yếu tập trung một số sản phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước như: Viên nén tăng 67,3%; chíp điện tử tăng 48,8%; ván lạng, gỗ các loại tăng 31,2%; điện sản xuất tăng 22,8%; thuốc viên các loại tăng 17,4%; dăm gỗ các loại tăng 14,1%; điện thương phẩm tăng 12%; nhân hạt điều các loại tăng 11,4%; mây tre lá các loại tăng 8,8%; nước uống được tăng 6,6%. Bên cạnh đó, có một số sản phẩm giảm do sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường và các sản phẩm có thị trường xuất khẩu bị ảnh hưởng do dịch bệnh Covid-19 như: Tinh bột sắn giảm 6,6%; bia các loại giảm 2,2%; xi măng các loại giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước.
3. Đầu tư
Kế hoạch vốn đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý năm 2021 là 5.493,6 tỷ đồng, giảm 18,8% so Kế hoạch giao năm 2020 do dịch Covid-19 đang có nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế, đã làm ảnh hưởng lớn đến tình hình thu ngân sách trên địa bàn tỉnh.
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý theo giá hiện hành tháng 01/2021 ước tính thực hiện 326,1 tỷ đồng, giảm 7,3% so tháng trước và giảm 9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 188,2 tỷ đồng, giảm 19,9%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 136,8 tỷ đồng, tăng 11,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 1,1 tỷ đồng gấp 2,3 lần.
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý phân theo mục đích đầu tư: Vốn đầu tư thực hiện ở một số ngành có giá trị khối lượng lớn như: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản thực hiện 54,8 tỷ đồng, giảm 52,2%; xây dựng thực hiện 44,6 tỷ đồng, tăng 42,5%; vận tải và kho bãi thực hiện 146 tỷ đồng, tăng 65,8%; hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội, QLNN, ANQP thực hiện 9,9 tỷ đồng, giảm 57,8%; giáo dục đào tạo thực hiện 31,3 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước.
Đầu năm kế hoạch vốn phân bổ cho các dự án chưa đầy đủ nên chủ yếu thi công tiếp các công trình chuyển tiếp từ năm trước sang như: Nút giao thông khác mức đường số 2 khu đô thị Nam thành phố Tuy Hòa - Nguyễn Văn Linh (ước thực hiện 8 tỷ đồng); Kè chống sạt lở bờ Sông Ba kết hợp với phát triển hạ tầng đô thị (từ cầu Đà Rằng mới tới cầu Đà Rằng cũ ước thực hiện 6,5 tỷ đồng); hồ điều hòa Hồ Sơn và hạ tầng xung quanh (ước thực hiện 10 tỷ đồng); sửa chữa nâng cấp công trình Chính trị cửa sông Đà Nông (giai đoạn 1) (ước thực hiện 5 tỷ đồng),…
4. Tài chính, Ngân hàng
4.1. Tài chính
Tính đến ngày 18/01/2021, tổng thu NSNN trên địa bàn là 63 tỷ đồng, đạt 1,2% dự toán trung ương giao; đạt 0,73% dự toán tỉnh giao;
Tổng chi NSĐP là 181 tỷ đồng, đạt 1,9% dự toán trung ương giao; đạt 1,4% dự toán tỉnh giao; trong đó chi đầu tư phát triển là 14,7 tỷ đồng, chi thường xuyên là 166,3 tỷ đồng.
4.2. Ngân hàng
Nhìn chung, các NHTM trên địa bàn tỉnh tuân thủ chặt chẽ các quy định về lãi suất tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, các doanh nghiệp tiếp cận vốn vay. Hiện nay, các NHTM áp dụng lãi suất cho vay VNĐ ≤ 6,5%/năm dư nợ là 3.171 tỷ đồng, chiếm 9,76% dư nợ cho vay của các NHTM; lãi suất trên 6,5%/năm đến ≤ 9%/năm, dư nợ 12.855 tỷ đồng, chiếm 39,55% dư nợ cho vay của các NHTM; cho vay với lãi suất trên 9%/năm (chủ yếu là các khoản vay trung dài hạn, cho vay tiêu dùng) đạt dư nợ 16.479 tỷ đồng, chiếm 50,7% dư nợ cho vay của các NHTM...
Tổng nguồn vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 28.877 tỷ đồng, tăng 75 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 0,26% so với cuối năm 2020; trong đó: Tiền gửi bằng VND đạt 28.445 tỷ đồng, tăng 75 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 0,26% so với cuối năm 2020; Tiền gửi ngoại tệ quy VNĐ là 316 tỷ đồng, tăng 1 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 0,32% so với cuối năm 2020; Phát hành giấy tờ có giá bằng VND đạt 116 tỷ đồng, không thay đổi so với cuối năm 2020. Trong tổng nguồn huy động, nguồn tiền gửi tiết kiệm 24.762 tỷ đồng, chiếm 85,75%, tăng 0,02% so với cuối năm 2020, đảm bảo tính chủ động vốn của các TCTD trên địa bàn.
Tổng dư nợ cho vay trên địa bàn đạt 36.430 tỷ đồng, tăng 0,64% so với cuối năm 2020; trong đó: Cho vay bằng VND 35.888 tỷ đồng, chiếm 98,5%/tổng dư nợ cho vay, tăng 0,67%; cho vay ngoại tệ quy VND 542 tỷ đồng, chiếm 1,5% tổng dư nợ, tăng 0,37% so với cuối năm 2020.
Dư nợ xấu trên địa bàn là 245,58 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,67%/tổng dư nợ; các ngân hàng luôn chú trọng và tiếp tục khẩn trương trong công tác xử lý nợ xấu.
5. Thương mại, dịch vụ, giá cả
5.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ
Tháng 01/2021 là thời điểm giáp Tết Nguyên đán nên tình hình lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn tăng cao do nhu cầu chuẩn bị hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng Tết Nguyên đán Tân Sửu sắp đến và người dân tập trung sửa chữa và xây mới các công trình đường giao thông, thủy lợi, nhà ở dân cư trước Tết. Các hoạt động dịch vụ vui chơi giải trí ít sôi động do đề phòng dịch bệnh. Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường được các cấp, các ngành tăng cường nên đã góp phần bình ổn được thị trường hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh. Các đơn vị kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh đã có kế hoạch chủ động trong sản xuất kinh doanh đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của Nhân dân.
Tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, với nguồn kinh phí xúc tiến thương mại địa phương năm 2021, tỉnh đã tổ chức cho các doanh nghiệp đưa hàng hóa có chất lượng cao về nông thôn, vùng sâu, vùng xa bán hàng phục vụ Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, với sự tham gia của 08 doanh nghiệp, thời gian từ ngày 23/01-31/01/2021 tại 09 xã của 03 huyện miền núi và 01 huyện đồng bằng (huyện Tây Hòa). Ngoài ra, tại trung tâm thành phố Tuy Hòa “Hội chợ Xuân Phú Yên 2021” diễn ra từ ngày 07/01-13/01/2021, với 68 doanh nghiệp đăng ký tham gia, trong đó Phú Yên có 11 doanh nghiệp, với 250 gian hàng, doanh thu ước đạt 07 tỷ đồng, khoảng 70.000 lượt khách tham quan và mua sắm.
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2021 ước tính 3.351,6 tỷ đồng, tăng 9,8% so tháng trước, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa 2.818,4 tỷ đồng, tăng 12,9% so với tháng trước và tăng 7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành 384,5 tỷ đồng, tăng 0,7% so tháng trước, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động dịch vụ 148,7 tỷ đồng, giảm 14,3% so tháng trước, tăng 19,6% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể:
+ Tổng mức bán lẻ hàng hóa là 2.818,4 tỷ đồng, tăng 12,9% so với tháng trước và tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm ngành hàng chủ yếu so với cùng kỳ năm trước, chỉ có duy nhất nhóm hàng xăng, dầu các loại giảm 20,7%; các nhóm còn lại đều tăng; trong đó một số nhóm ngành hàng tăng khá đó là: Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 25,4%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 13,5%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 12,4%; lương thực, thực phẩm tăng 10,5%.
+ Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành là 384,5 tỷ đồng, tăng 0,7% so với tháng trước và giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó so cùng kỳ năm trước: Dịch vụ lưu trú 12,5 tỷ đồng, giảm 35,9%; dịch vụ ăn uống 371,6 tỷ đồng, giảm 3,3%; dịch vụ du lịch lữ hành 0,4 tỷ đồng, tăng 48,2%, tăng do khách đặt đi tour ra ngoài tỉnh.
Trong tháng, tổng lượt khách du lịch đến Phú Yên đạt 60.030 lượt, giảm 67,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách quốc tế đạt 320 lượt, giảm 89,1%. Tổng lượt khách tại các cơ sở lưu trú là 40.020 lượt, giảm 55,1%, trong đó khách quốc tế là 315 lượt, giảm 81,0%. Tổng doanh thu hoạt động du lịch đạt 51,1 tỷ đồng, giảm 75,5%, trong đó doanh thu lưu trú đạt 12,5 tỷ đồng, giảm 35,9%. Khách tham quan tại 02 điểm di tích, thắng cảnh Gành Đá Đĩa và Bãi Môn - Mũi Đại Lãnh là 17.370 lượt khách, giảm 35,5% (trong đó khách quốc tế là 53 lượt, giảm 95,5%). Doanh thu bán vé đạt 290,11 triệu đồng, giảm 31,8% so với cùng kỳ. Riêng tại Di tích quốc gia đặc biệt Tháp Nhạn, khách tham quan đạt 5.650 lượt, giảm 26,5%.
+ Dịch vụ khác 148,7 tỷ đồng, giảm 14,3% so với tháng trước và tăng 19,6% so với cùng kỳ năm trước (do cùng kỳ năm trước rơi vào dịp Tết Nguyên đán).
5.2. Chỉ số giá
Tháng 01/2021 là tháng trước Tết Nguyên đán nên chỉ số giá tiêu dùng tháng này so tháng trước và cùng tháng năm trước tăng ở mức thấp. Cụ thể:
- So với tháng trước chỉ số giá tiêu dùng tháng 01/2021 tăng 0,2%, trong đó có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng: Nhóm giao thông tăng 2,21%, tăng do xăng tăng 5,66%, dầu diezel tăng 6,31%, vận tải hành khách bằng đường sắt tăng 3,11% (đây là nhóm có mức tăng cao nhất); nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,94%; hàng ăn và dịch vụ  ăn uống tăng 0,66%[3]; đồ uống và thuốc lá tăng 0,48%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,34%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm: Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 1,7%; bưu  chính viễn thông giảm 1,58% (tác động làm CPI chung giảm 0,04%); nhóm có giá không đổi so với tháng trước là nhóm giáo dục.
Một số hàng hóa mà người dân mua sắm sử dụng nhiều trong dịp Tết có tăng giá nhưng không nhiều như: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,48% (nước quả ép tăng 1,17%; nước uống tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 1,85%; rượu mạnh tăng 0,64%; thuốc lá tăng 0,6%); Nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,94% (quần, áo tăng 1-1,26%; giầy dép 1,41-2,10%; dịch vụ giầy, dép tăng 3,28%). Giá gas tăng 8,09% do tác động tăng của giá gas thế giới tăng, dầu hỏa tăng 7,65%; nước sinh hoạt giảm 2,58%; điện sinh hoạt giảm 10,97%, do mùa đông nên người dân sử dụng lượng điện, nước tiêu thụ ở mức thấp và việc hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện (do dịch covid-19) cho các khách hàng sử dụng điện.
- So với cùng kỳ năm trước chỉ số giá tiêu dùng tháng 01/2021 tăng 0,2%: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,15% (lương thực tăng 12,04%, thực phẩm giảm 0,54%, ăn uống ngoài gia đình tăng 15,75%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,29%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,99%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 5,32%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,73%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,23%; giao thông giảm 10,62%; bưu chính viễn thông giảm 2,75%; giáo dục tăng 5,16%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,36%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,62%.
Giá vàng 99,99 bình quân trong tháng 01/2021 là 5.560.000 đồng/chỉ; so tháng trước tăng 2,36%; so cùng tháng năm trước tăng 28,35%. Giá Đô la Mỹ là 23.186 VND/USD; so tháng trước giảm 0,19%; so cùng tháng năm trước giảm 0,21%.
5.3. Giao thông vận tải
Để phục vụ tốt nhu cầu đi lại của Nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu, ngành giao thông đã kịp thời khắc phục, sửa chữa các tuyến giao thông trên địa bàn tỉnh, phục vụ nhu cầu vận chuyển các loại hàng hóa, vật tư cho sản xuất, tiêu dùng. Các doanh nghiệp, các đơn vị kinh doanh vận tải hành khách bổ sung thêm xe, tăng cường quay vòng tối đa tăng chuyến/lượt phục vụ vận chuyển hành khách trước, trong và sau Tết.
Tổng doanh thu ngành vận tải tháng 01/2021 dự tính 344 tỷ đồng, tăng 6,1%, so với cùng kỳ năm trước trong đó: Vận tải hành khách 50,6 tỷ đồng, giảm 23,8% (do dịp Tết Nguyên đán Canh Tý vào tháng 01/2020 nên lượng hành khách đi lại tăng cao hơn); vận tải hàng hóa 287,4 tỷ đồng, tăng 14,6%; Kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải dự ước 6 tỷ đồng, giảm 12,7%. Trong tổng doanh thu ngành vận tải, vận tải đường bộ 338 tỷ đồng, chiếm 98,3%, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách vận chuyển chủ yếu là đường bộ 1.036,5 ngàn lượt khách, giảm 34,2%; luân chuyển 73.184,1 ngàn lượt khách.km, giảm 35,3% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển chủ yếu là đường bộ 1.137 ngàn tấn, tăng 4,5%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đường bộ dự ước 88.855,7 ngàn tấn.km, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước.
6. Một số vấn đề xã hội
6.1. Hoạt động văn hóa - thể thao
Tổ chức tuyên truyền trực quan chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII; 91 năm Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2021) và mừng xuân Tân Sửu năm 2021 với 724m2 pano các loại; tổ chức 72 buổi chiếu phim lưu động phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa thu hút trên 150 lượt người xem mỗi đêm. Tổ chức chương trình nghệ thuật “Chào đón năm mới 2021” và tiếp tục dàn dựng biểu diễn theo kế hoạch.
Tổ chức trưng bày 600 bản sách theo chuyên đề (Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; 91 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Biển đảo và chủ quyền biển đảo Việt Nam; Phong tục tập quán, cây cảnh và ẩm thực ngày Tết) phục vụ 8.450 lượt bạn đọc với 11.580 lượt tài liệu phục vụ bạn đọc, hơn 2.000 lượt truy cập trang web, cấp 55 thẻ bạn đọc.       
Phối hợp với Tổng cục Thể dục thể thao tổ chức giải thể thao học đường năm học 2020-2021. Tham gia giải bóng đá vô địch U19 quốc gia (từ ngày 06/01 đến ngày 03/02/2021).
Tổ chức Lễ chào cờ đầu năm mới 2021 và chào đón du khách đầu tiên đến Mũi Đại Lãnh (Mũi Điện) - Phú Yên.
6.2. Y tế - giáo dục
- Y tế
Bệnh sốt xuất huyết đã phát hiện 4 ổ dịch, 218 ca mắc, không tử vong; so với cùng kỳ năm trước tăng 1 ổ dịch, số ca mắc giảm 20,7%. Bệnh tay chân miệng 7 ca mắc, không tử vong; so với cùng kỳ trước số ca mắc tăng 6 ca, không tử vong. Sốt rét có 4 trường hợp mắc, không có ca mắc sốt rét ác tính (SRAT); so với cùng kỳ năm trước số ca mắc giảm 80,9%. Phát hiện mới 05 trường hợp nhiễm HIV(+), lũy tích toàn tỉnh có 805 ca nhiễm HIV (trong đó 299 bệnh nhân AIDS, 199 bệnh nhân tử vong). Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone cho 71 bệnh nhân.
Chương trình tiêm chủng mở rộng, đến cuối tháng 1/2021 đạt 8,1% số cháu dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 8 loại vaccine phòng bệnh; số bà mẹ mang thai được tiêm phòng uốn ván 2 mũi đạt tỷ lệ 8,0%.
Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn của Công ty TNHH CCIPY Việt Nam, Lô E8.1,E8.2&E8.3, KCN An Phú, TP Tuy Hòa, với 82 người mắc, không tử vong.
Trung tâm Da liễu đã khám cho 2.881 lượt và điều trị cho 2.879 lượt bệnh ngoài da; Trạm chuyên khoa Lao khám 451 lượt bệnh nhân, phát hiện mới 78 trường hợp mắc, trong đó có 49 trường hợp xét nghiệm có trực khuẩn lao (+); Trạm chuyên khoa Tâm thần đã khám 330 lượt; Trung tâm Giám định y khoa đã khám cho 1.741 lượt người, trong đó khám giám định 123 lượt, khám dự tuyển, tuyển dụng, theo yêu cầu 506 lượt, khám định kỳ 1.112 lượt; Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc-mỹ phẩm-thực phẩm đã kiểm nghiệm được 67 mẫu (21 mẫu đông dược, 44 mẫu thuốc, 1 mẫu mỹ phẩm và 1 mẫu thực phẩm), tất cả đều đạt chất lượng.
- Giáo dục
Tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2020-2021 trong 03 ngày, từ ngày 25- 27/12 an toàn, nghiêm túc, tỉnh Phú Yên có 54 thí sinh đăng ký dự thi ở 9 bộ môn.
Từ ngày 07-08/01, Phòng Giáo dục Trung học tham mưu tổ chức Cuộc thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học cấp tỉnh năm học 2020-2021. Kết quả, ở khối THCS, Sở trao 2 giải nhất, 4 giải nhì, 6 giải ba và 13 giải khuyến khích. Ở khối THPT, 2 giải nhất, 6 giải nhì, 10 giải ba và 15 khuyến khích được trao cho các tác giả. Qua cuộc thi này, Sở chọn ra 2 dự án đạt giải nhất khối THPT tham gia cuộc thi KHKT cấp quốc gia dành cho học sinh trung học trong năm 2021.
6.3. An toàn giao thông
Tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh trong tháng 01/2021 giảm số vụ, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Từ ngày 15/12/2020-14/1/2021, toàn tỉnh đã xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 8 vụ; làm chết 6 người, giảm 7 người; bị thương 8 người, giảm 4 người so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại tài sản 317,5 triệu đồng.
6.4. Tình hình thiệt hại thiên tai, cháy nổ và vi phạm môi trường
Từ ngày 15/12/2020-14/01/2021 toàn tỉnh xảy ra 2 vụ cháy, ước thiệt hại tài sản 48,2 triệu đồng. Các lực lượng chức năng đã phát hiện 7 vụ vi phạm môi trường, lập biên bản xử lý vi phạm 5 vụ.
6.5. Các chính sách an sinh xã hội
Kết quả tổng hợp báo cáo tình hình tiền lương năm 2020, tiền thưởng tết năm 2021 của 72/3.750 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh như sau: Tiền lương năm 2020 bình quân 5.768.800đ/người/tháng (cao nhất 92.600.000đ/người/tháng; thấp nhất 3.070.000đ/người/tháng). Tiền thưởng Tết Dương lịch năm 2021 bình quân 719.700đ/người (cao nhất 21.500.000đ/người; thấp nhất 100.000đ/người). Tiền thưởng Tết Nguyên đán Tân Sửu bình quân 5.751.220đ/người (cao nhất 92.600.000đ/người; thấp nhất 500.000đ/người).
Tình hình tặng quà tết cho đối tượng chính sách: Quà Chủ tịch nước tặng Bà mẹ VNAH, thương bệnh binh, các đồng chí lão thành cách mạng, người tham gia kháng chiến bị địch bắt tù đày, cha mẹ liệt sĩ và người có công, người bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp hàng tháng, tổng số 19.076 suất với số tiền 5.788,8 triệu đồng, trong đó có 220 suất mức 600.000đ và 18.826 suất mức 300.000đ. UBND tỉnh trích ngân sách tặng 21.349 suất với số tiền 10.901,2 triệu đồng, trong đó: 2.287 suất tặng Bà mẹ VNAH, AHLLVT mỗi suất 600.000đ; 18.859 suất quà tặng thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công, cán bộ tiền khởi nghĩa, người hoạt động cách mạng bị địch bắt tù đày, người hưởng trợ cấp chất độc hóa học, mỗi suất 500.000đ; 118 suất quà tiêu biểu để các đồng chí lãnh đạo tỉnh đến thăm các gia đình chính sách tiêu biểu, mỗi suất 500.000đ; 85 suất cho hộ nghèo đặc biệt khó khăn, mỗi suất 500.000đ.
Tổ chức chúc thọ, thăm và tặng quà mừng thọ cho 1.724 cụ tròn 100 tuổi, tròn 90 tuổi và trên 100 tuổi, với tổng số tiền 1.246,6 triệu đồng. Tổ chức trao 1.000 suất quà Tết của Quỹ Thiện Tâm (Tập đoàn Vingruop) cho người nghèo, với tổng số tiền 600 triệu đồng. Hỗ trợ thiếu ăn sau bão số 12 năm 2020, hiện thị xã Sông Cầu đang thực hiện hỗ trợ 1.916 hộ gia đình, 3.756 khẩu, với 59.610 kg gạo (số tiền 685,515 triệu đồng). Đang xem xét hỗ trợ 9.130 hộ, 20.725 khẩu, với 328.530 kg gạo theo đề nghị của 5 huyện (Tuy An, Đồng Xuân, Sông Cầu, Sơn Hòa, Sông Hinh) thiếu ăn trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021


7. Công tác phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra (Covid-19)
Ngày 01/01/2021, tại cơ sở cách ly y tế tập trung tỉnh Phú Yên (Trung tâm huấn luyện & bồi dưỡng kiến thức QP&AN thuộc Trung đoàn BB888 và Cơ quan cũ của Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh) đã tiếp nhận 349 công dân Việt Nam từ nước ngoài (Hoa Kỳ) về Việt Nam để thực hiện cách ly tập trung. Đã thực hiện giám sát y tế 25.142 trường hợp. Hiện tại, còn 79 người đang trong thời gian giám sát, cụ thể: Cách ly tại cơ sở y tế 14 người; cách ly tại cơ sở cách ly tập trung 53 người; cách ly tại nhà, nơi lưu trú 0 người; đang tự theo dõi sức khỏe hàng ngày 12 người. Đã lấy mẫu làm xét nghiệm 3.961 trường hợp, kết quả âm tính 3.858, dương tính 25, nghi ngờ 2. Đến 17h ngày 20/01, trên địa bàn tỉnh có 13 trường hợp bệnh xác định (lũy kế có 25 trường hợp bệnh xác định), các trường hợp bệnh xác định được cách ly ngay sau nhập cảnh./.
CỤC THỐNG KÊ TỈNH PHÚ YÊN
                                               
 
[1] Người nuôi tôm mua để nuôi chủ yếu nguồn giống từ tỉnh ngoài.
[2] Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có các ngành công nghiệp cấp 2 có mức tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 13,7%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ, gỗ, tre, nứa tăng 12,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 9,2%; sản xuất trang phục tăng 7,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 5%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5%. Những ngành giảm so với cùng kỳ năm trước do tình hình tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn như: Sản xuất đồ uống giảm 5,6%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 4,1%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic giảm 6%.
 
[3] Trong đó: Giá lương thực tăng 1,42% (gạo tẻ thường tăng 1,45%; gạo tẻ ngon tăng 1,91%; ngô tăng 1,74%; khoai tăng 5,2%; sắn tăng 1,88%; bún, bánh phở, bánh đa tăng 4,14%). Thực phẩm tăng 0,41% so tháng trước, chủ yếu mặt hàng thịt lợn tăng 4,49% (Nguyên nhân do nguồn cung lợn hơi giảm, nhu cầu tiêu dùng tăng và một lượng lớn heo thịt được vận chuyển vào bán ở phía Nam nên giá thịt lợn tăng cao vào thời điểm trước Tết Nguyên đán ); thịt gia súc đông  lạnh tăng 3,08%; thịt gà tăng 0,43% do nhu cầu tiêu thụ thịt gà dịp cuối năm và ngày Tết tăng cao; nhóm mặt hàng thủy sản tươi sống tăng 1,52% do thời tiết không thuận lợi nên sản lượng khai thác giảm đáng kể, nhu cầu tiêu dùng lại tăng nên giá nhóm này tăng; tuy nhiên, do thời tiết thuận lợi nguồn cung dồi dào, mặt hàng rau củ nhiều, phong phú nên giá một số mặt hàng rau củ quả tươi và chế biến giảm 6,43% như: Bắp cải giảm 17,76%; su hào giảm 10,01%; cà chua giảm 18,16%; khoai tây giảm 1,33%; đỗ quả tươi giảm 12,44%...

  Ý kiến bạn đọc