Tình hình Kinh tế xã hội tỉnh Phú Yên tháng 8 năm 2021

Thứ hai - 30/08/2021 00:16 466 0
Tình hình Kinh tế xã hội tỉnh Phú Yên tháng 8 năm 2021
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8/2021


1. Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
1.1. Nông nghiệp
- Trồng trọt:
Do năm nay thời tiết diễn biến khắc nghiệt xảy ra khô hạn cục bộ trong vụ hè thu, các ngành chức năng khuyến cáo nông dân chỉ sản xuất cây lúa ở vùng đảm bảo đủ nước tưới suốt vụ, những diện tích không đủ nước cần chuyển sang cây trồng như: Bắp lai, rau, đậu thực phẩm và các loại hoa màu khác... nhằm tiêu thụ ít nước nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả kinh tế. Diện tích lúa hè thu đã xuống giống gieo sạ 24.528 ha, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Cơ cấu giống lúa gieo sạ chủ yếu gồm: ML48, ML49, ĐV108,.... Trà sớm đã thu hoạch khoảng 1.025 ha, năng suất 42,1 tạ/ha, trong đó: Tuy An 59,5 ha, Sông Cầu 200 ha, Đông Hòa 320 ha. Hiện nay, mực nước trong các hồ chứa thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang ở mức thấp nên không đáp ứng đủ cho một số diện tích lúa cuối kênh, xa các hồ, đập. Người dân tiếp tục bơm nước chống hạn cho diện tích khoảng 355 ha bị thiếu nước cục bộ tại thị xã Đông Hòa (303 ha), huyện Sông Hinh (45 ha), huyện Sơn Hòa (7 ha).
Cùng với việc chăm sóc lúa vụ hè thu, bà con ở các địa phương có lúa rẫy đã chuẩn bị xong khâu làm đất và gieo sạ được 350 ha (Sông Hinh 40 ha, Sông Cầu 300 ha, Đồng Xuân 10 ha) các địa phương khác chờ mưa xuống là gieo trồng.
Cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày: Tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2021 đã gieo trồng được: Ngô 2.923 ha, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm trước, mía 21.619 ha, tăng 2,6%; rau các loại 5.750 ha, giảm 7,9%; đậu các loại 1.771 ha, giảm 6,4%; lạc 358 ha, giảm 30,7%. Do thời tiết khô hạn kéo dài, nguồn nước bơm tưới bổ sung gặp khó khăn, nên nhìn chung các cây trồng cạn sinh trưởng kém hơn năm trước.
- Về tình hình sâu bệnh hại cây trồng (tại thời điểm ngày 14/8/2021)
+ Trên cây lúa: Chuột cắn phá rải rác 5,4 ha, bệnh đốm sọc vi khuẩn gây hại 7 ha, bệnh khô vằn gây hại 18 ha trên lúa đang giai đoạn làm đòng chín sáp, bệnh bạc lá gây hại 15,5 ha. Ngoài ra còn có sâu đục thân, bọ xít đen... gây hại tỷ lệ và mật độ thấp, rải rác ở các huyện.
+ Trên cây hành lá: Bệnh đốm vòng gây hại với diện tích nhiễm nhẹ 0,3 ha tại xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa.
+ Trên cây rau cải: Bọ nhảy gây hại 3,1 ha tại huyện Tuy An. Ngoài ra, còn có bọ trĩ, sâu tơ, sâu xanh gây hại xà lách, mồng tơi rải rác tại huyện Tuy An.
+ Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại 6,3 ha ở giai đoạn nảy mầm - trổ cờ tại huyện Tuy An, Phú Hòa và Tây Hòa.
+ Trên cây sắn: Nhện đỏ gây hại 1.708 ha, bệnh rệp sáp bột hồng gây hại 200 ha và bệnh khảm lá virus gây hại 16.447 ha, tỷ lệ bệnh 5-100% (Sông Hinh 6.000 ha, Đồng Xuân 4.250 ha, Sơn Hòa 4.420 ha, Tây Hòa 1.750 ha, Phú Hòa 25 ha, Tuy An 2 ha).
+ Trên cây mía: Bệnh sâu đục thân gây hại cây con diện tích nhiễm nhẹ 45 ha tại huyện Sơn Hòa. Ngoài ra, còn bệnh than gây hại rải rác ở cây con với mật độ thấp.
Chi cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật đang tăng cường công tác dự tính, dự báo sâu bệnh hại cây trồng và hướng dẫn nông dân cách chăm sóc, phòng trừ hoặc tiêu hủy cây bị bệnh. Tăng cường hướng dẫn nông dân áp dụng sản xuất đúng quy trình canh tác cây rau, quy trình IPM, VietGap...
- Chăn nuôi: Đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì phát triển. Ước tính đàn trâu giảm 0,8%; đàn bò giảm 1,5%; đàn lợn  tăng 34% và đàn gia cầm giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước.
- Bệnh Viêm da nổi cục trâu, bò diễn ra trên địa bàn tỉnh tính đến ngày 15/8/2021: Bò mắc bệnh là 3.831 con của 73 xã thuộc 8 huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh, đã chết 161 con. Số bò chết chủ yếu là những bê con theo mẹ chưa đủ tuổi tiêm vắc xin và bò già yếu suy nhược cơ thể. Đến nay điều trị khỏi bệnh là 1.932 con bò bị bệnh viêm da nổi cục.
Tiếp tục chăm sóc, theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm; triển khai hoạt động tiêu độc khử trùng môi trường chăn nuôi trên địa bàn toàn tỉnh nhằm ngăn ngừa dịch bệnh phát sinh. Lũy kế từ đầu năm 2021 đến nay đã thực hiện công tác tiêm phòng vaccine cho đàn gia súc, gia cầm. Kết quả: Tiêm vaccine LMLM đợt I/2021 được 89.105 con trâu-bò; tiêm vaccine tụ huyết trùng được 41.312 con; tiêm vaccine viêm da nổi cục trâu bò 60.000 con; tiêm vaccine dại chó được 14.182 con; tiêm vaccine cúm gia cầm được 409.650 con (vaccine được Nhà nước hỗ trợ 2 huyện có nguy cơ cao Đông Hòa, Phú Hòa 322.250 con; vaccine người dân tự mua 87.400 con).
1.2. Lâm nghiệp
Trong tháng, các đơn vị lâm nghiệp và hộ dân trồng rừng đã khai thác 830 ha rừng trồng tập trung đến thời gian cho sản phẩm với sản lượng gỗ các loại 66,2 ngàn m3, giảm 28,6% so với cùng kỳ năm trước (do việc thuê nhân công khai thác gỗ rừng trồng gặp nhiều khó khăn, thị trường tiêu thụ và xuất khẩu lâm sản gặp trở ngại trong khâu vận chuyển hàng hóa do đó các hộ trồng rừng phải giãn tiến độ khai thác); củi khai thác 20 ngàn ster, giảm 19,4%. Lũy kế 8 tháng, sản lượng gỗ rừng trồng khai thác đạt 186,9 ngàn m3, tăng 1%; sản lượng củi chủ yếu tận dụng các cây cành không đủ tiêu chuẩn gỗ 54 ngàn ster, giảm 9% so với cùng kỳ năm trước.
 Từ đầu năm đến nay, công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện và lập biên bản xử lý kịp thời 175 vụ vi phạm tăng 7,36%, trong đó: 5 vụ cháy rừng trồng thiệt hại 78,58 ha, phá rừng trái pháp luật 28 vụ làm diện tích rừng bị giảm 10,74 ha. Xử lý 153 vụ vi phạm, phạt tiền khoảng 1,48 tỷ đồng, khối lượng gỗ tịch thu 164,3 m3.
1.3. Thuỷ sản
Trong tháng, diện tích thả nuôi thủy sản các loại đạt 253 ha, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá các loại 30 ha, tăng 1,1%; tôm thẻ chân trắng 180 ha, bằng 100%; thủy sản khác các loại 43 ha, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng diện tích thả nuôi được 2.610 ha, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá các loại 244 ha, tăng 0,1%; tôm 2.073 ha, tăng 0,5% (tôm sú 228 ha, bằng 100%; tôm thẻ chân trắng 1.845 ha, tăng 0,5%); thủy sản khác 293 ha, tăng 0,1%.
Sản lượng tôm Post sản xuất đạt 196 triệu con, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu xuất bán phục vụ nuôi trồng trong tỉnh.
Tình hình dịch bệnh trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng có 58,51 ha tôm nuôi khoảng 20 đến 42 ngày tuổi bị bệnh đốm trắng 20,35 ha và hoại tử gan tụy cấp 38,16 ha (thị xã Sông Cầu 2,5 ha, huyện Tuy An 8,61 ha, thị xã Đông Hòa 47,4 ha). Các ngành chức năng đã hướng dẫn các biện pháp phòng và chữa bệnh, cấp thuốc sát trùng Sodium Chlorite 20% để xử lý hồ nuôi, tiếp tục theo dõi không để dịch bệnh lây lan sang diện rộng.
Trong tháng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản ước tính 7.118 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá các loại 5.017 tấn, tăng 0,8%; tôm 1.771 tấn, tăng 2,1%; thủy sản khác 330 tấn, tăng 18,8%. Cụ thể:
- Sản lượng thuỷ sản khai thác ước tính 5.170 tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển 5.150 tấn, tăng 0,9% (cá các loại 4.900 tấn, tăng 0,9%; tôm 70 tấn, bằng 100%; thủy sản khác 180 tấn, tăng 2,9%).
- Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính 1.948 tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 102 tấn, tăng 2%; tôm đạt 1.701 tấn, tăng 2,2%; thủy sản khác đạt 145 tấn, tăng 49,8%.
Tính chung 8 tháng, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản ước tính 62.166 tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước (cá các loại 48.487 tấn, giảm 0,6%; tôm 8.904 tấn, tăng 5,3%; thủy sản các loại 4.775 tấn, tăng 34,8%). Trong tổng sản lượng cá các loại khai thác biển, cá ngừ đại dương 2.726 tấn chiếm 5,7% và giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước.
2. Sản xuất công nghiệp
Tháng 8/2021, dịch Covid-19 bùng phát trên địa bàn tỉnh và diễn biến phức tạp, nhiều khu vực phải thực hiện cách ly, phong tỏa, một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải dừng hoạt động do có các ca nhiễm, các doanh nghiệp còn lại phải giảm công suất hoạt động... Do đó, kết quả sản xuất công nghiệp của tháng 8/2021 giảm so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số sản xuất công nghiệp dự tính tháng 8/2021 giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 35,2%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 6,3%[1]; ngành sản xuất, phân phối điện, hơi nước tăng 2,7%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 0,3%.
Một số sản phẩm công nghiệp trong tháng 8/2021 sản xuất tăng so với cùng kỳ như: Nhân hạt điều các loại 1.590 tấn, tăng 0,8%; viên nén 635 m3, tăng 2,1%; ván lạng gỗ các loại 590 tấn, tăng 2,1%; nước uống được 1.180 ngàn m3, tăng 2,2%; chip điện tử 41 triệu sản phẩm, tăng 2,5%; điện sản xuất 180,1 triệu kwh, tăng 4,4%; phân bón các loại 3.500 tấn, tăng 7,5%; thuốc viên các loại 188 triệu viên, tăng 12,6%. Bên cạnh đó một số sản phẩm giảm như: Két nhựa các loại 4.500 két, giảm 42,9%; trang in các loại 100 triệu trang, giảm 37,9%; đá xây dựng các loại 46.000 ngàn m3, giảm 34,4%; bia các loại 2.758 ngàn lít, giảm 26,5%; hải sản các loại 980 tấn, giảm 12,8%; xi măng các loại 5.820 tấn, giảm 10%; quần áo các loại 1.092 ngàn sản phẩm, giảm 8,5%; dăm gỗ các loại 14.500 tấn, giảm 7,1%; nước mắm các loại 1,7 triệu lít, giảm 3,2%; mây tre lá các loại 45 ngàn sản phẩm, giảm 2,2%; nước đá 53.500 tấn giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước.
3. Tình hình đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp
Tính từ đầu năm đến ngày 01/8/2021 trên địa bàn tỉnh Phú Yên có 249 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm 20,2% so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký là 2.600,4 tỷ đồng, giảm 30,8%; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,4 tỷ đồng/01 doanh nghiệp. Bên cạnh đó, có 07 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 61,1% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động là 97 doanh nghiệp tăng 12,8%; số doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh là 58 doanh nghiệp, tăng 16%.
4. Đầu tư
Do dịch bệnh, thực hiện giãn cách xã hội nên thi công các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh chậm lại, dẫn đến vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2021 ước tính 291,4 tỷ đồng, giảm 2% so tháng trước và giảm 33,8% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 190,8 tỷ đồng, giảm 40,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 100,1 tỷ đồng, giảm 15,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 0,5 tỷ đồng, giảm 50% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư thực hiện ở một số ngành có giá trị khối lượng lớn như: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản thực hiện 75,6 tỷ đồng, giảm 50,8%; xây dựng thực hiện 23,7 tỷ đồng, giảm 32,5%; vận tải và kho bãi thực hiện 102,6 tỷ đồng, giảm 27,9%; hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội, QLNN, ANQP; Đảm bảo xã hội bắt buộc thực hiện 12,1 tỷ đồng, giảm 31,8%; giáo dục đào tạo thực hiện 16,9 tỷ đồng, giảm 28,4% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 8 tháng năm 2021 vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tính 2.371 tỷ đồng đạt 43,2% so kế hoạch năm và giảm 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 1.429 tỷ đồng, giảm 37,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 937,3 tỷ đồng, giảm 8,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 4,6 tỷ đồng giảm 20,1% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư thực hiện ở một số ngành có giá trị khối lượng lớn như: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản thực hiện 609,3 tỷ đồng, giảm 41,3%; xây dựng thực hiện 221,3 tỷ đồng, giảm 2,4%; vận tải và kho bãi thực hiện 902,1tỷ đồng, giảm 5,7%; hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội, QLNN, ANQP; Đảm bảo xã hội bắt buộc thực hiện 87 tỷ đồng, giảm 46,2%; giáo dục đào tạo thực hiện 206,5 tỷ đồng giảm 13,8% so với cùng kỳ năm trước.
5. Tài chính, ngân hàng
5.1. Thu, chi ngân sách
- Tính đến ngày 17/8/2021, tổng thu NSNN trên địa bàn 4.584 tỷ đồng, đạt 86,7% DTTW (4.584 tỷ đồng/5.283,9 tỷ đồng); đạt 53,1% dự toán tỉnh (4.584 tỷ đồng/8.635 tỷ đồng);
- Tổng chi NSĐP 5.907 tỷ đồng, đạt 63,3% DTTW (5.907 tỷ đồng/9.322 tỷ đồng); đạt 46,6% dự toán tỉnh giao (5.907 tỷ đồng/12.673 tỷ đồng); trong đó chi thường xuyên là 3.226 tỷ đồng.
5.2. Hoạt động ngân hàng
Tính đến thời điểm báo cáo, nhìn chung, các TCTD đều tuân thủ và thực hiện nghiêm các quy định về lãi suất, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trên địa bàn tương đối ổn định và có mặt giảm để hỗ trợ khách hàng do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, cụ thể như sau:
- Mặt bằng lãi suất huy động VND phổ biến ở mức 0,1% - 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 01 tháng; 2,7% - 3,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 01 tháng đến dưới 06 tháng[2]; 3,7% - 6,1%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 06 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng ở mức 4,0% -7,4%/năm. Lãi suất huy động USD là 0%/năm.
- Mặt bằng lãi suất cho vay VND: Đối với các lĩnh vực ưu tiên[3], lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 4,3% - 4,5%; trung dài hạn ở mức 7% - 10,6%; đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường và cho vay tiêu dùng, lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 4,5% - 15%, trung dài hạn ở mức 6,99% - 16,0%;
Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,3% - 7,8%/năm đối với ngắn hạn; 4,2% - 9,1%/năm đối với trung dài hạn.
- Về tỷ giá, ngoại hối: Các NHTM trên địa bàn tỉnh chấp hành tốt chính sách về tỷ giá điều hành của NHNN Việt Nam. Tính đến ngày 18/8/2021, tỷ giá mua, bán USD của các NHTM trên địa bàn phổ biến ở mức 22.850 - 23.100 VND/USD. Doanh số giao dịch ngoại tệ quy ra VND đạt 641,36 tỷ đồng, trong đó doanh số mua vào là 376,76 tỷ đồng, doanh số bán ra là 264,6 tỷ đồng.
- Ước đến cuối tháng 8/2021, tổng vốn huy động đạt 30.818 tỷ đồng, tăng 7% so với cuối năm 2020; trong đó: Tiền gửi VND 30.312 tỷ đồng, chiếm 98,4% tổng nguồn vốn huy động, tăng 6,8%; tiền gửi ngoại tệ quy VND 378 tỷ đồng, tăng 20%;
Phân theo cơ cấu tiền gửi: Tiền gửi tiết kiệm 26.226 tỷ đồng, chiếm 85,1% tổng vốn huy động, tăng 5,9% so với cuối năm 2020; tiền gửi thanh toán 4.464 tỷ đồng, tăng 13,6%.
- Ước đến cuối tháng 8/2021, dư nợ cho vay trên địa bàn đạt 37.937 tỷ đồng, tăng 4,8% so với cuối năm 2020; trong đó: Dư nợ cho vay bằng VND 37.170 tỷ đồng, chiếm 97,98% tổng dư nợ, tăng 4,27%; cho vay ngoại tệ quy VND 767 tỷ đồng, tăng 42,04% so với cuối năm 2020.
Dư nợ cho vay ngắn hạn 21.559 tỷ đồng, chiếm 56,8% tổng dư nợ, tăng 7,7%; cho vay trung, dài hạn 16.378 tỷ đồng, tăng 1,3% so với cuối năm 2020.
Đến cuối tháng 7/2021, nợ xấu trên toàn địa bàn là 220,88 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,6%, giảm 10,8% so với cuối năm 2020. Nợ xấu giảm một phần là do nợ xấu cho vay theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro tín dụng của NHTM và chuyển sang ngoại bảng từ 30/6/2021; và một số khách hàng đã trả nợ đúng hạn sau khi bắt đầu cơ cấu lại nợ. Tuy nhiên, trên địa bàn còn tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu từ các khoản cho vay sản xuất kinh doanh dịch vụ bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân. Đối với các khoản nợ xấu hiện nay, đặc biệt là các khoản nợ cho vay theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP, các NHTM tiếp tục đôn đốc khách hàng trả nợ, tích cực đẩy nhanh tiến độ xử lý tài sản để thu hồi nợ.
6. Thương mại, giá cả, dịch vụ
Trong tháng 8/2021 tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh đến nay đang còn diễn biến phức tạp, vẫn còn ca lây nhiễm trong cộng đồng. Để kiểm soát có hiệu quả sự lây lan dịch bệnh, bảo vệ tốt nhất cho sức khỏe, tính mạng của Nhân dân, từ 0 giờ 00 ngày 23/8/2021 đến ngày 15/8/2021 toàn tỉnh thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 theo Chỉ thị số 16/CT-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ; riêng thành phố Tuy hòa, thị xã Đông Hòa, huyện Tuy An, Tây Hòa và huyện Phú Hòa gia hạn thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg đến ngày 25/8/2021; thị xã Sông Cầu, huyện Đồng Xuân, Sơn Hòa và huyện Sông Hinh thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15/CT-TTg đến ngày 25/8/2021. Do đó, hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ ngành hàng không thiết yếu tạm dừng.
Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, ổn định giá được các cấp, các ngành tăng cường. Các đơn vị kinh doanh thương mại và dịch vụ đã có kế hoạch chủ động trong sản xuất, kinh doanh phù hợp với tình hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp tại địa phương; các nhà phân phối, trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện ích trên địa bàn tỉnh đã chủ động dự trữ hàng hóa với các mặt hàng nhu yếu phẩm, thực phẩm thiết yếu để đảm bảo phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong tỉnh.
6.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2021 ước tính 1.890,8 tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước và giảm 30,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa 1.810,7 tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và giảm 23,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm ngành hàng chủ yếu, có nhóm ngành hàng nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước, do ảnh hưởng giá gas thế giới tăng, kéo theo giá gas trong nước tăng và mức tiêu dùng của hộ gia đình tăng; các nhóm còn lại đều giảm so với cùng kỳ năm trước, giảm nhiều ở các nhóm không thuộc hàng hóa thiết yếu nên ngừng hoạt động kinh doanh để đảm bảo chống dịch đó là nhóm: Hàng may mặc giảm 85,2%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục giảm 77,5%,....
- Doanh thu dịch vụ lưu trú ăn uống và du lịch lữ hành ước tính tháng 8/2021 là 30 tỷ đồng, tăng 11,9% so với tháng trước và giảm 88,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú 1,7 tỷ đồng, tăng 48,3% so với tháng trước và giảm 62,81% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống 28,3 tỷ đồng, tăng 10,3% so với tháng trước, giảm 88,7% so với cùng kỳ năm trước.
Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 12 khách sạn đủ tiêu chuẩn đăng ký nhận thực hiện cách ly đối tượng F1 với công suất gần 400 phòng.
- Dịch vụ khác tháng 8/2021 ước tính 50,1 tỷ đồng, tăng 0,1% so với tháng trước và và giảm 50,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có các nhóm ngành dịch vụ giảm trên 50% so với cùng kỳ năm trước như: Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 6,5 tỷ đồng, bằng 30%; dịch vụ giáo dục và đào tạo 1,3 tỷ đồng, bằng 24,6%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí 1,4 tỷ đồng, bằng 6,5% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng dự tính 22.447,3 tỷ đồng, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Kinh doanh thương nghiệp 19.485,2 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 86,8% và tăng 2,8%; lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành 2.066,1 tỷ đồng, chiếm 9,2 và giảm 18,5%; dịch vụ 896 tỷ đồng, chiếm 4% và giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước.
6.2. Chỉ số giá
- Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2021 so tháng trước tăng 0,2%, do tác động của hàng, hóa dịch vụ như: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,37% (trong đó, lương thực giảm 0,61% chủ yếu là: Gạo tẻ thường giảm 1,35%; ngô giảm 2,86% do nhu cầu tiêu dùng của người dân ổn định trở lại; thực phẩm tăng 0,42% do tiếp tục thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ nên việc lưu thông và phân phối hàng hóa hạn chế, dẫn đến một số mặt hàng thực phẩm giá tăng cao nên đã đẩy giá nhóm thực phẩm tăng như: Trứng tươi các loại tăng 11,15%; thủy, hải sản khác chế biến tăng 4,33%; đậu hạt các loại tăng 2,78%; bắp cải tăng 15,76%; su hào tăng 7,06%; khoai tây tăng 4,81%; rau muống tăng 5,93%; đỗ quả tươi tăng 3,08%; rau dạng quả, củ tăng 12,93%; măng tươi tăng 3,98%; rau gia vị tươi, khô các loại tăng 6,72%; táo tăng 2,18%; xoài tăng 5,59%; đường tăng 3,58%; các loại lá để uống khác tăng 3,35%. May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,45% do là tháng chuẩn bị học sinh tựu trường, trang phục, đồng phục cho con em tăng. Giá gas tăng 3,05%, mỗi bình gas 12 kg tăng 12.000 đồng. Dịch vụ về hiếu tăng 2,85%. Giá xăng dầu giảm do Liên Bộ Tài chính và Công thương điều chỉnh giá xăng dầu vào ngày 11/8/2021 với mức giảm bình quân: Xăng A95 giảm 500 đồng/lít, xăng E5 giảm 500 đồng/lít; dầu diezen giảm 700 đồng/lít. Cây, hoa cảnh giảm 6,29% vì dịch Covid-19 các nhà hàng, tiệc cưới, lễ hội dừng tổ chức vì thế giảm lượng tiêu thụ mặt hàng này.
- Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2021 so cùng kỳ năm trước tăng 4,24%, tăng chủ yếu ở nhóm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,04% (lương thực tăng 4,15%, thực phẩm tăng 4,09%, ăn uống ngoài gia đình tăng 3,84%); may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 2,32%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,85%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,43%; giao thông tăng 14,75%; giáo dục tăng 4,98%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,35%. Riêng 2 nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,14% và văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,18%.
- Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2021 so tháng 12 năm trước, tăng 3,22%; trong đó 2 nhóm tăng trên mức tăng bình quân chung là: Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 5,15%; giao thông tăng 12,56%; các nhóm còn lại tăng, giảm trong khoảng giảm 0,14% đến tăng 2,62%.
- Giá vàng 99,99 bình quân trong tháng 8/2021 là 5.084.000 đồng/chỉ; so tháng trước giảm 1,83%; so cùng tháng năm trước giảm 5,27%; so tháng 12 năm trước giảm 6,41%. Giá Đô la Mỹ bình quân trong tháng là 23.030 VND/USD; so tháng trước giảm 0,39%; so cùng tháng năm trước giảm 1,04%; so tháng 12 năm trước giảm 0,86%.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2021 so bình quân cùng kỳ năm trước tăng 2,69%, tăng chủ yếu như: Nhóm giao thông tăng 8,21%; giáo dục tăng 5,09%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,82% (trong đó: Lương thực tăng 11,92%, thực phẩm giảm 0,53%, ăn uống ngoài gia đình tăng 8,4%); nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 2,11%;.… Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,34%.
6.3. Giao thông vận tải
Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh, ngành giao thông vận tải tỉnh Phú Yên đã yêu cầu tạm ngừng tất cả các hoạt động vận tải hành khách liên tỉnh và nội tỉnh kể từ 12 giờ ngày 27/6/2021 đến khi có thông báo mới. Ga Tuy Hòa, Cảng hàng không Tuy Hòa tạm dừng hoạt động vận chuyển hành khách. Vì vậy, doanh thu, sản lượng vận chuyển, luân chuyển thực hiện thấp so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Hiện tại, công tác quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh vận tải của tỉnh thực hiện đúng quy định pháp luật về vận chuyển, kiểm tra, kiểm soát, quản lý phòng chống dịch bệnh Covid-19 trên mọi phương tiện vận tải, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông trên nguyên tắc bảo đảm kiểm soát chặt chẽ về phòng chống dịch bệnh. Đã thực hiện công bố luồng xanh nội tỉnh kết nối luồng xanh quốc gia qua địa bàn tỉnh và cấp thẻ nhận diện cho phương tiện được ưu tiên đi theo luồng xanh quốc gia (đến nay cấp 1.550 thẻ nhận diện), đảm bảo việc lưu thông hàng hóa phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung cấp hàng hóa thiết yếu cần thiết cho người dân.
Tổng doanh thu ngành vận tải tháng 8/2021 ước tính 151,2 tỷ đồng, giảm 51,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Doanh thu vận tải hành khách 10,6 tỷ đồng, giảm 72,4%; doanh thu vận tải hàng hóa 139 tỷ đồng, giảm 48,8%; kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 1,6 tỷ đồng, giảm 67,4%; doanh thu vận tải đường bộ tháng 8/2021 là 149,5 tỷ đồng, giảm 51,7% so với cùng kỳ năm trước.
Vận chuyển hành khách chủ yếu là đường bộ tháng 8 ước tính 280,3 nghìn lượt khách, giảm 71,9% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 9.841,9 nghìn lượt khách.km, giảm 79,1%.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển chủ yếu là đường bộ tháng 8 ước tính 530,4 ngàn tấn, giảm 51,2% và luân chuyển 24.965,1 ngàn tấn.km, giảm 63,3% so với cùng kỳ năm trước.
- Lũy kế 8 tháng, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tính 1.938,2 tỷ đồng, giảm 14,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách 243 tỷ đồng, giảm 34,1%; vận tải hàng hóa là 1.655 tỷ đồng giảm 10,5%. Trong tổng doanh thu hoạt động vận tải, vận tải đường bộ là 1.898 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 97,9%, giảm 14,4% so với cùng kỳ năm trước.
 Khối lượng vận tải hành khách 5.501,3 nghìn lượt khách, giảm 36,5% và luân chuyển 321.590,4 nghìn lượt khách.km, giảm 37,5%. Khối lượng hàng hóa vận chuyển 5.978,4 nghìn tấn, giảm 16,6%, luân chuyển 393.687,6 nghìn tấn.km, giảm 22,5% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải hàng không, lượng hành khách qua Cảng hàng không Tuy Hòa trong tháng do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp nên không thực hiện vận chuyển, lũy kế 8 tháng đạt 169.392 lượt khách, giảm 30% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải đường sắt, trong tháng do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp nên không thực hiện vận chuyển; lũy kế 8 tháng năm 2021, sản lượng vận chuyển đạt 35.408 lượt khách, giảm 49,9% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải đường biển, lượng hàng hóa thông qua cảng Vũng Rô trong tháng đạt 20.300 tấn; lũy kế 8 tháng đạt 153.000 tấn, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước.
7. Các vấn đề xã hội
7.1. Hoạt động văn hóa, thể thao
Thực hiện Đề án “Chương trình hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2021-2030” trên địa bàn tỉnh. Tổ chức tuyên truyền 100 pano phướn, trồng 40 trụ cờ tại một số điểm trên địa bàn thành phố Tuy Hòa tuyên truyền kỷ niệm 76 năm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2021) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2021). Tiếp tục ghi âm chuyển file thông báo đến cơ sở và tổ chức tuyên truyền cố định về công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh. Thư viện tỉnh giới thiệu sách nhân các ngày Lễ; phục vụ 600 lượt bạn đọc trực tuyến.
Tạm hoãn tổ chức thi đấu các giải thể thao cấp tỉnh, dừng tham gia thi đấu các giải thể thao khu vực, toàn quốc do dịch Covid-19.
7.2. Y tế
Tính đến ngày 20/8/2021: Bệnh sốt xuất huyết phát hiện 01 ổ dịch, 11 ca mắc, so với cùng kỳ năm trước giảm 32 ổ dịch, số mắc giảm 98,6%; lũy kế toàn tỉnh có 18 ổ dịch, 563 ca mắc, 02 ca tử vong, giảm 162 ổ dịch, số mắc giảm 85,3%, tử vong tăng 01 ca. Bệnh tay chân miệng lũy kế toàn tỉnh có 145 ca mắc, giảm 36,1%. Bệnh sốt rét lũy kế toàn tỉnh có 36 ca mắc, giảm 68,7% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng đã phát hiện mới 07 trường hợp nhiễm HIV(+) (Phú Hòa 02, Đông Hòa 02, Tây Hòa 02, Đồng Xuân 01). Lũy tích toàn tỉnh có 827 ca nhiễm HIV (trong đó 303 bệnh nhân AIDS, 203 bệnh nhân tử vong). 100% bệnh nhân HIV/AIDS ở cộng đồng tham gia BHYT.
Chương trình tiêm chủng mở rộng, đến cuối tháng 8/2021 đạt 48,6% số cháu dưới 01 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 8 loại vaccine phòng bệnh; số bà mẹ mang thai được tiêm phòng uốn ván 02 mũi đạt tỷ lệ 35,5%.
Tính đến ngày 20/8/2021: Trạm chuyên khoa Lao khám 86 lượt bệnh nhân, phát hiện mới 03 trường hợp mắc, trong đó có 02 trường hợp có bằng chứng vi khuẩn học; luỹ kế đến nay đã khám 2.801 lượt, phát hiện mới 369 trường hợp mắc, trong đó có 219 trường hợp có bằng chứng vi khuẩn học. Trạm chuyên khoa Tâm thần đã khám 116 lượt; lũy kế đến nay đã khám 2.120 lượt.
Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc-MP-TP đã kiểm nghiệm được 21 mẫu (07 mẫu đông dược, 07 mẫu dược liệu, 07 mẫu thực phẩm), trong đó có 04 mẫu không đạt chất lượng. Tính đến nay đã kiểm nghiệm được 388 mẫu, trong đó có 11 mẫu không đạt chất lượng.
Tăng cường tuyên truyền công tác vệ sinh thực phẩm bằng nhiều hình thức. Tổ chức giám sát công tác an toàn thực phẩm tại các bếp ăn cung cấp suất ăn cho các khu cách ly tập trung. Tuyên truyền công tác phòng chống dịch Covid-19 tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng thiết yếu do Ngành Y tế quản lý.
7.3. Giáo dục
Hoàn thành công tác chấm phúc khảo Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10, năm học 2021 - 2022.
Công bố kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2021 đợt I[4]: Kết quả, tỷ lệ thí sinh đỗ tốt nghiệp là 97,5%; trong đó, hệ Giáo dục phổ thông là 98,15%; hệ Giáo dục thường xuyên và tự do là 64,2%.
Rà soát, chuẩn bị chu đáo và tổ chức thi đợt II kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 cho 405 thí sinh (trong đó có 04 thí sinh các tỉnh khác gửi thi) từ ngày 6 đến 7/8/2021 an toàn, an ninh và đảm bảo công tác phòng chống dịch Covid-19 được dư luận xã hội đánh giá cao.
Kết quả, tỷ lệ thí sinh đỗ tốt nghiệp THPT (2 đợt) là 97,83%. Trong đó, hệ Giáo dục phổ thông là 98,41%; hệ Giáo dục thường xuyên và tự do là 69,81%.
7.4. Trật tự an toàn xã hội
- Tai nạn giao thông
Theo số liệu thống kê, tai nạn giao thông trong tháng 8/2021 giảm số vụ, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể:
Từ ngày 15/7/2021-14/8/2021, toàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ tai nạn giao thông, giảm 08 vụ; làm chết 02 người, giảm 06 người; bị thương 01 người, giảm 4 người so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại tài sản 8 triệu đồng. Trong tháng chỉ xảy ra tai nạn giao thông đường bộ, không xảy ra tai nạn giao thông đường sắt.
Lũy kế từ 15/12/2020-14/8/2021, toàn tỉnh đã xảy ra 79 vụ tai nạn giao thông, giảm 35 vụ; làm chết 50 người, giảm 20 người; bị thương 54 người, giảm 28 người so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại tài sản 809,9 triệu đồng. Trong đó, tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 78 vụ, giảm 34 vụ; làm chết 49 người, giảm 19 người; bị thương 54 người, giảm 28 người so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại tài sản 809,9 triệu đồng. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 01 vụ, làm chết 01 người, so với cùng kỳ năm trước giảm 01 vụ, giảm 01 người chết.
- Tình hình cháy, nổ - vi phạm môi trường
Từ ngày 15/7/2021-14/8/2021 toàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy, ước thiệt hại tài sản 460 triệu đồng. Lũy kế đến 14/8/2021, toàn tỉnh xảy ra 10 vụ cháy, 01 vụ nổ, 02 người bị thương do cháy nổ, ước thiệt hại tài sản hơn 14,6 tỷ đồng.
Các lực lượng chức năng đã phát hiện 72 vụ vi phạm môi trường, lập biên bản xử lý vi phạm 19 vụ, phạt tiền 11,9 triệu đồng. Lũy kế đến 15/8/2021, toàn tỉnh phát hiện 148 vụ vi phạm môi trường, lập biên bản xử lý vi phạm 64 vụ, phạt tiền 39,3 triệu đồng.
7.5. Các chính sách an sinh xã hội
Trung tâm Dịch vụ việc làm của Sở Lao động đã tư vấn nghề - việc làm 552 lượt người. Giới thiệu việc làm và cung ứng lao động 223 người đến các cơ quan, đơn vị trong và ngoài tỉnh thuộc các thành phần kinh tế. Tiếp nhận và giải quyết 631 trường hợp hưởng trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp.
Tính đến ngày 18/8/2021 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã thẩm tra hồ sơ, thủ tục của các địa phương, đơn vị, lập thủ tục trình UBND tỉnh tổng cộng là 11 tờ trình: Tổng số người đề nghị hỗ trợ 370 người với sồ tiền 1.061,35 triệu đồng. Hiện nay Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đang tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra, thẩm định nhưng chưa lập thủ tục trình UBND tỉnh: Tổng số đối tượng là 144 người với số tiền: 467.150.000đ. UBND tỉnh đã có Quyết định phê duyệt hỗ trợ tiền ăn cho người điều trị Covid-19 và cách ly y tế (tổng số 69 người, số tiền 82,24 triệu đồng), hỗ trợ viên chức hoạt động nghệ thuật, hướng dẫn viên du lịch (tổng số 18 người, số tiền 66,78 triệu đồng).
Các địa phương rà soát, lập danh sách, phối hợp với Bảo hiểm xã hội cấp huyện mua Bảo hiểm y tế cho vợ, chồng liệt sĩ đã lấy chồng hoặc vợ khác theo Nghị định số 175/2021 của Chính phủ. Tính đến nay đã giải quyết cho 92 trường hợp.
Thực hiện tốt các chế độ ưu đãi đối với người có công, giải quyết chế độ cho 22 hồ sơ các loại cho các đối tượng chính sách.
Chi trả trợ cấp xã hội tháng 7, 8 năm 2021 cho các đối tượng bảo trợ xã hội (đã thực hiện chi trả 46.652 người, đạt tỷ lệ 92%, số tiền 33,785 tỷ đồng).
Bàn giao xong 147 con bò giống do Quỹ Thiện Tâm tài trợ cho các hộ gia đình bị thiệt hại do bão lụt năm 2020.
Rà soát nắm tình hình người dân gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19 có nguy cơ thiếu đói, đề xuất Chính phủ hỗ trợ với 45.670 hộ, 123.511 khẩu. Số gạo đề nghị cứu đói là 2.300,415 tấn.
Cấp phát phần thưởng cho học sinh khá giỏi thuộc dự án Holt.
8. Công tác phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra (Covid-19)
Sở Y tế đã thiết lập 9 Bệnh viện dã chiến để tiếp nhận, điều trị bệnh nhân Covid-19; Tổ chức điều trị tích cực các ca bệnh xác định tại các cơ sở y tế, thường xuyên kết nối hội chẩn giữa các Bệnh viện dã chiến trong tỉnh và hội chẩn với các Bệnh viện tuyến Trung ương.
Công tác phòng chống dịch Covid-19: Tính đến 8 giờ 00 ngày 20/8/2021, toàn tỉnh có 2.405 ca nhiễm trong cộng đồng, trong đó: Thành phố Tuy Hòa 1.368 ca, huyện Phú Hòa 478 ca, huyện Tuy An 161 ca, thị xã Đông Hòa 141 ca, huyện Sơn Hòa 71 ca, huyện Tây Hòa 64 ca, huyện Đồng Xuân 52 ca, huyện Sông Hinh 34 ca, thị xã Sông Cầu 33 ca và tỉnh khác 3 ca. Đã thực hiện truy vết được 7.972 trường hợp F1, 21.320 trường hợp F2. Đã điều trị khỏi 1.601 bệnh nhân và có 25 bệnh nhân đã tử vong.
Các địa phương tiếp tục công tác truy vết, cách ly y tế, lấy mẫu xét nghiệm và xử lý môi trường tại các địa điểm nguy cơ. Sở Y tế tiếp tục ban hành các thông báo khẩn từ số 43 đến số 61 về tìm người có mặt tại các địa điểm có nguy cơ; Phối hợp tổ chức kiểm tra việc quản lý chất thải và vệ sinh trong phòng chống dịch Covid-19 tại các Bệnh viện dã chiến và các khu cách ly trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
Phối hợp tổ chức 9 đợt đón công dân Phú Yên từ TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam về cách ly phòng, chống dịch trên địa bàn, với tổng số người đã đón về là 4.089 công dân.
Về triển khai tiêm vắc xin phòng Covid-19: Kết thúc các đợt chiến dịch tiêm vắc xin đợt 4, 5, 6, 7 và hiện tại đang triển khai chiến dịch tiêm vắc xin phòng Covid-19 đợt 9, 10, 11. Tính đến 17 giờ ngày 19/8/2021, toàn tỉnh đã tiêm vắc xin phòng Covid-19 cho 104.157 người (chiếm tỉ lệ 16,9% so với dân số từ 18 tuổi trở lên), trong đó có 18.222 người tiêm đủ 02 mũi (chiếm tỷ lệ 2,95% so với dân số từ 18 tuổi trở lên)./.
CỤC THỐNG KÊ TỈNH PHÚ YÊN
[1] Một số ngành cấp II có chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng 8/2021 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất đồ uống giảm 50,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 30,5%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm11,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tre, nứa giảm 3,3%; sản xuất sản phẩm kim loại đúc sẵn giảm 2,3%; sản xuất trang phục giảm 7,7%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 1,3%. Một số ngành công nghiệp cấp II đã có hợp đồng được ký kết từ đầu năm đồng thời lên kế hoạch ứng phó, bố trí thời gian làm việc phù hợp, vừa đảm bảo an toàn phòng chống dịch, vừa đảm bảo sản xuất, kinh doanh nên sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 17,2%; ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 15%.
 
[2] Theo quy định tại Quyết định số 1729/QĐ-NHNN ngày 30/9/2020
[3] Theo quy định tại Quyết định số 1730/QĐ-NHNN ngày 30/9/2020
[4] Có 10 trường và trung tâm có thí sinh đỗ tốt nghiệp 100%. Toàn tỉnh có 75 thí sinh đạt điểm 10. Thủ khoa đợt I kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 khối Khoa học xã hội có 02 em đồng 35,6 điểm, khối Khoa học tự nhiên có 01 em 35,23 điểm.

  Ý kiến bạn đọc